Chứng quyền là quyền cho phép mua một số cổ phần xác định của một cổ
phiếu, với một giá xác định, trong một thời hạn nhất định. Quyền này
được phát hành khi tiến hành tổ chức lại các công ty, hoặc khi công ty
muốn khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua những trái phiếu hay cổ
phiếu ưu đăi nhưng có những điều kiện kém thuận lợi. Để chấp nhận những
điều kiện đó, nhà đầu tư có được một lựa chọn đối với sự lên giá có thể
xảy ra của cổ phiếu thường.
Đặc điểm:
Khác với quyền mua trước, chứng quyền có thời hạn dài hơn, do công ty đă
phát hành công cụ cơ sở phát hành đồng thời với công cụ cơ sở. Khác với
quyền lựa chọn (option), khi chứng quyền được thực hiện, nó tạo thành
ḍng tiền vào cho công ty và tăng thêm lượng cổ phiếu lưu hành trên thị
trường.
Chứng quyền có thể được giao dịch tách rời với trái phiếu hay cổ phiếu
mà nó đi kèm.
Các điều kiện của chứng quyền được ghi rơ trên tờ chứng chỉ: số cổ phiếu
được mua theo mỗi chứng quyền (thườnglà 1:1); giá thực hiện cho mỗi cổ
phiếu; tại thời điểm chứng quyền được phát hành, giá này bao giờ cũng
cao hơn giá thị trường của cổ phiếu cơ sở, và giá đó có thể cố định, có
thể được tăng lên định kỳ; và thời hạn của quyền, đa số trường hợp là 5
đến 10 năm.
Hợp dồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó một người mua và một người
bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định,
tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định
vào ngày hôm nay.
Hàng hoá ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào; từ nông sản, các đồng
tiền, cho tới các chứng khoán.
Theo hợp đồng này th́ chỉ có hai bên tham gia vào việc kư kết, giá cả do
hai bên tự thoả thuận với nhau, dựa theo những ước tính mang tính các
nhân. Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao nhận
hàng hoá có thể thay đôỉ, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đă kư
kết trong hợp đồng. Khi đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị thiệt hại
do đă cam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo
giá thị trường.
Như vậy bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới
hạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của ḿnh.
V́ chỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nên mỗi bên đều phụ thuộc
duy nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng. Khi có thay đổi giá
cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một
trong hai bên không thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, v́ mức giá đặt ra mang
tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chính xác.
Hợp đồng tương lai, nhờ đặc tính linh hoạt của nó, đă khắc phục được
những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn, và thường được xem là một cách
thức tốt hơn để rào chắn rủi ro trong kinh doanh.
Những điểm khác biệt căn bản của hợp đồng tương lai so với hợp đồng kỳ
hạn là:
1. Niêm yết trên sở giao dịch. Một giao dịch hợp đồng tương lai
nói chung được xử lư trên một Sở giao dịch. Điểm này cho phép giá cả
được h́nh thành hợp lư hơn, do các bên mua bán được cung cấp thông tin
đầy đủ và công khai.
2. Xoá bỏ rủi ro tín dụng. Trong các giao dịch hợp đồng tương lai
được niêm yết trên sở giao dịch, cả hai bên bán và mua đều không bao giờ
biết về đối tác giao dịch của ḿnh. Công ty thanh toán bù trừ sẽ phục vụ
như một trung gian trong tất cả các giao dịch. Người bán bán cho công ty
thanh toán bù trừ, và người mua cũng mua qua công ty thanh toán bù trừ.
Nếu một trong hai bên không thực hiện được hợp đồng th́ vẫn không ảnh
hưởng ǵ đến bên kia.
3.Tiêu chuẩn hoá. Các hợp đồng kỳ hạn có thể được thảo ra với một
hàng hoá bất kỳ, khối lượng, chất lượng, thời gian giao hàng bất kỳ,
theo thoả thuận chung giữa hai bên bán, mua. Tuy nhiên, các hợp đồng
tương lai niêm yết trên sở giao dịch đ̣i hỏi việc giao nhận một khối
lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng
tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước.
4. Điều chỉnh việc đánh giá theo mức giá thị trường (Marking to
market). Trong các hợp đồng kỳ hạn, các khoản lỗ, lăi chỉ được trả
khi hợp đồng đến hạn. Với một hợp đồng tương lai, bất kỳ món lợi nào
cũng được giao nhận hàng ngày. Cụ thể là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến
động khác với giá đă thoả thuận (giá thực hiện hợp đồng) th́ bên bị
thiệt hại do sự thay đổi giá này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự
thay đổi giá đó. Trên thực tế, v́ không bên nào biết về đối tác của ḿnh
trong giao dịch, nên những người thua đều trả tiền cho công ty thanh
toán bù trừ, và công ty này sẽ trả tiền cho những người thắng.