|
theo báo Đầu tư Chứng khoán Rủi ro trong đầu tư CK được định nghĩa là sự dao động của lợi nhuận mong đợi, do vậy để đạt được tỷ lệ lợi nhuận cao trong đầu tư chứng khoán, vấn đề đặt ra là phải quản lư được mức rủi ro này. Rủi ro là kết quả không mong đợi v́ nó luôn đi cùng với những khoản đầu tư chứng khoán (CK). Rủi ro trong đầu tư CK được định nghĩa là sự dao động của lợi nhuận mong đợi, do vậy để đạt được tỷ lệ lợi nhuận cao trong đầu tư chứng khoán, vấn đề đặt ra là phải quản lư được mức rủi ro này. 1. Các loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các CK. Sự bấp bênh của môi trường kinh tế nói chung như sự sụt giảm GDP, biến động lăi suất, tốc độ lạm phát thay đổi... là những minh chứng cho rủi ro hệ thống, những biến đổi này tác động đến sự dao động giá cả của các CK trên thị trường. Trong rủi ro hệ thống trước hết phải kể đến rủi ro thị trường. Rủi ro thị trường xuất hiện do phản ứng của các nhà đầu tư đối với các hiện tượng trên thị trường. Những sự sút giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây sợ hăi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn. Phản ứng dây truyền này làm tăng số lượng bán, giá cả CK sẽ rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở. Tiếp đến là rủi ro lăi suất. Giá cả CK thay đổi do lăi suất thị trường dao động thất thường gọi là rủi ro lăi suất. Giữa lăi suất thị trường và giá cả CK có mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Khi lăi suất thị trường tăng, người đầu tư có xu hướng bán CK để lấy tiền gửi vào ngân hàng dẫn đến giá CK giảm và ngược lại. Ngoài hệ quả trực tiếp đối với giá CK, lăi suất c̣n ảnh hưởng gián tiếp đến giá cổ phiếu (CP) thường. Khi lăi suất tăng làm giá CP giảm v́ các nhà đầu cơ vay mua kư quỹ sẽ bị ảnh hưởng. Nhiều công ty kinh doanh CK hoạt động chủ yếu bằng vốn đi vay th́ với mức lăi suất tăng cũng làm cho chi phí vốn tăng. Một yếu tố rủi ro hệ thống khác không kém phần quan trọng là rủi ro sức mua. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát tới các khoản đầu tư. Lợi tức thực tế của CK đem lại là kết quả giữa lợi tức danh nghĩa sau khi khấu trừ đi lạm phát. Như vậy, khi có t́nh trạng lạm phát th́ lợi tức thực thế giảm. Giải thích theo lư thuyết hiện tại hoá, một đồng lợi tức của hôm nay th́ trong tương lai không c̣n giá trị một đồng do tác động của lạm phát. Rủi ro không hệ thống là rủi ro chỉ tác động đến một loại tài sản hoặc một nhóm tài sản, nghĩa là rủi ro này chỉ liên quan đến một loại CK cụ thể nào đó. Rủi ro không hệ thống bao gồm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính. Trong quá tŕnh kinh doanh, định mức thực tế không đạt được như theo kế hoạch gọi là rủi ro kinh doanh, chẳng hạn lợi nhuận trong năm tài chính thấp hơn mức dự kiến. Rủi ro kinh doanh được cấu thành bởi yếu tố bên ngoài và yếu tố nội tại trong công ty. Rủi ro nội tại phát sinh trong quá tŕnh công ty hoạt động. Rủi ro bên ngoài bao gồm những tác động nằm ngoài sự kiểm soát của công ty làm ảnh hưởng đến t́nh trạng hoại động của công ty như chi phí tiền vay, thuế, chu kỳ kinh doanh... Rủi ro tài chính cũng là một loại rủi ro không hệ thống. Rủi ro tài chính liên quan đến đ̣n bẩy tài chính, hay nói cách khác liên quan đến cơ cấu nợ của công ty. Sự xuất hiện các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra nghĩa vụ trả nợ trả lăi của công ty. Công ty phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ (gồm trả nợ ngân hàng và trả nợ trái phiếu) trước việc thanh toán cổ tức cho cổ đông. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến giá cả CP công ty. Rủi ro tài chính có thể tránh được nếu công ty không vay nợ chút nào. 2. Xác định mức bù rủi ro Một trong những phương pháp định lượng rủi ro và xác định doanh lợi yêu cầu là sử dụng mức lăi suất không rủi ro cộng với mức bù của từng loại rủi ro một. Đầu tiên, chúng ta xác định mức lăi suất không rủi ro (thông thường lăi suất tín phiếu Kho bạc được coi là lăi suất không rủi ro), sau đó xác định mức bù rủi ro cho mỗi thị trường. Tổng số rủi ro liên quan đến CK bao gồm rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống. Trong đó, rủi ro không hệ thống có thể được loại trừ thông qua việc đa dạng hoá đầu tư, c̣n rủi ro hệ thống th́ không thể loại trừ bằng cách đa dạng hoá. 3. Quản lư rủi ro Việc quan trọng nhất trong quản trị rủi ro là phải xây dựng được quy tŕnh quản lư rủi ro. Thông thường, quản lư rủi ro được chia thành 5 bước: Bước 1: Nhận dạng rủi ro Đây là bước đầu tiên nhằm t́m hiểu cặn kẽ về bản chất của rủi ro. Cách đơn giản và trực tiếp nhất là liệt kê từng nhân tố và các biến cố có thể gây ra rủi ro. Cách làm rơ bản chất
của rủi ro là: Bước 2: Ước tính, định lượng rủi ro Bước này sẽ đo lường mức độ phản ứng của công ty đối với các nguồn gốc rủi ro đă xác định ở trên. Cụ thể, dùng một phương pháp giả định nếu có nhân tố rủi ro th́ công ty được ǵ và mất ǵ. Bưóc3: Đánh giá tác động của rủi ro Để đánh giá rủi ro người ta thường làm bài toán chi phí và lợi tức. Đôi khi, việc quản lư rủi ro tiêu tốn nhiều nguồn lực của công ty như tiền bạc và thời gian, do đó cần phải cân nhắc xem liệu việc quản lư rủi ro như vậy có thực sự đem lại lợi ích lớn hơn chi phí bỏ ra để thực hiện nó hay không. Bước 4: Đánh giá năng lực của người thực hiện chương tŕnh bảo hiểm rủi ro Để quản lư rủi ro có
hai chiến lược: Bước 5: Lựa chọn công cụ và quản lư rủi ro thích hợp Đây là bước mấu chốt
cuối cùng trong việc xây dựng chiến lược quản lư rui ro. Trong bước
này nhà quản lư phải chọn một giải pháp cụ thể. Chẳng hạn, đối với
các công cụ trên thị trường hối đoái, người ta có thể sử dụng hợp
đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, swap... làm công cụ pḥng chống
rủi ro, công cụ này có ưu điểm là có tính thanh khoan cao và có hiệu
quả về giá. Tuy nhiên, công cụ này không linh động, không khắc phục
được rủi ro cố hữu mà chi phí theo dơi lại khá tốn kém.
|