|
Phân tích kỹ thuật: Giới thiệu chung về Phân
tích kỹ thuật
Từ ngữ phân
tích kỹ thuật trong lĩnh vực thị trường chứng khoán có
một nghĩa hoàn toàn khác với ngôn ngữ thông dụng. Phân
tích kỹ thuật là nghiên cứu các hành động hành vi của
bản thân thị trường, khác với việc phân tích hàng hoá
trên thị trường. Phân tích kỹ thuật là khoa học ghi chép
biểu đồ dưới dạng đồ thị các giao dịch cổ phiếu hoặc
nhóm cổ phiếu trong quá khứ và từ đó vẽ ra được bức
tranh về xu thế trong tương lai.
Đồ thị là
công cụ của nhà phân tích kỹ thuật. Đồ thị có thể biểu
thị bất kỳ sự việc ǵ xảy ra trên thị trường hoặc các
chỉ số tính ra từ các đại lượng đó. Đồ thị có thể theo
đơn vị tháng, đơn vị tuần, ngày, giờ. Đồ thị có thể biểu
thị đại lượng tỷ lệ giữa doanh thu trên giá chứng khoán,
đại lượng giá trung b́nh của các cổ phiếu được mua bán
nhiều nhất v.v... Nói cách khác là các chỉ số được tính
ra từ các đại lượng thống kê về các giao dịch trên Sở
giao dịch chứng khoán. Trên đồ thị người ta cố gắng t́m
ra quy luật về các tín hiệu báo trước về sự thay đổi của
xu thế giá. Trong thực tế chỉ cần có các đồ thị biên độ
giá giá cao nhất, giá thấp nhất, giá đóng cửa và khối
lượng giao dịch trong ngày. Đồ thị theo ngày sẽ được bổ
sung bởi các đồ thị theo tuần, theo tháng. Cần chú ư
rằng giá đóng cửa đặc biệt quan trọng, c̣n giá mở cửa
chỉ có ư nghĩa cho việc mở đầu giá cho một ngày giao
dịch.
Người ta cho
rằng việc tính ra giá trị nội tại của một cổ phiếu là
không có ư nghĩa. Tất nhiên, các thống kê của phân tích
cơ bản đă được phản ánh trong phương tŕnh cung - cầu.
Nhưng c̣n có nhiều nhân tố khác tác động lên cung - cầu.
Giá thị trường không chỉ phản ánh các nhận định khác
nhau về giá cả của những người phân tích, mà c̣n phản
ánh tất cả các hy vọng, lo lắng, phỏng đoán và trạng
thái tâm lư của hàng trăm ngh́n người mua, người bán
tiềm tàng, cũng như các nhu cầu và các nguồn lực tài
chính của họ, tất cả các nhân tố mà thống kê chưa phản
ánh được, nhưng lại được tổng hợp, cân nhắc và được phản
ánh cuối cùng bằng một giá trị chính xác mà người mua và
người bán gặp gỡ nhau và thực hiện giao dịch. Giá cả là
điểm duy nhất họ quan tâm.
Những nhà
phân tích kỹ thuật cho rằng các con số thống kê phân
tích cơ bản là thuộc vào quá khứ, đă lạc hậu, v́ thị
trường không quan tâm đến quá khứ hoặc ngay cả hiện tại.
Thị trường luôn nh́n vào phía trước, cố gắng xử thế với
các diễn biến trong tương lai, cân nhắc, đánh giá và cân
bằng lại tất cả các đánh giá, các phỏng đoán của hàng
trăm ngh́n các nhà đầu tư là những người nh́n vào tương
lai từ các góc độ khác nhau và qua ống kính khác nhau.
Nói tóm lại, giá hiện tại được xác lập trên thị trường
đă kết hợp tất cả các thông tin cơ bản mà các nhà phân
tích thống kê muốn t́m
hiểu.
Một sự thật
hiển nhiên được công nhận là các giá cả biến thiên theo
xu thế và rằng xu thế có chiều hướng tiếp tục cho đến
khi có một cái ǵ đó xảy ra làm thay đổi sự cân bằng
cung - cầu. Các thay đổi đó có thể nhận biết qua các
hành vi của bản thân thị trường. Một số quy luật, h́nh
dáng, mức độ có thể xuất hiện trên đồ thị và có một ư
nghĩa nào đó và có thể sử dụng để phân tích diễn biến
trong tương lai. Nhưng chúng cũng không phải là chân lư
tuyệt đối không hề có sai
sót.
Nhà phân tích
kỹ thuật thậm chí có thể phân tích đồ thị mà không cần
biết đó là cổ phiếu ǵ, với điều kiện các thông tin về
giao dịch là đúng và bao quát một thời gian đủ dài để họ
có thể nghiên cứu các hành vi của thị trường. Họ có thể
mua bán một loại chứng khoán mà không cần biết về công
ty, về ngành nghề, về sản phẩm công ty cung cấp. Tuy vậy
chỉ những chuyên gia phân tích có kinh nghiệm mới đủ khả
năng thực hành các giao dịch loại chứng khoán
này.
CƠ SỞ LƯ LUẬN
CỦA PHÂN TÍCH KỸ THUẬT-LƯ THUYẾT DOW
Cơ sở của
phân tích kỹ thuật là lư thuyết Dow. Bản thân Charler H.
Dow, cha đẻ của lư thuyết Dow lúc khởi đầu không coi lư
thuyết của ḿnh là công cụ để dự báo thị trường cổ phiếu
hoặc là công cụ hướng dẫn cho các nhà đầu tư, mà chỉ xem
xét chúng như là một hàn thử biểu về xu thế chung của
thị trường. William P.Hamilton, người kế nghiệp, đă biên
soạn lại thành lư thuyết Dow hiện đại ngày nay. Thuật
ngữ xu thế chung của thị trường được hiểu là chỉ số giá
trung b́nh của một số cổ phiếu đại
diện.
Lư thuyết Dow
đưa ra các tiền đề cơ bản
sau:
a. Chỉ số
trung b́nh phản ánh tất cả các hành vi của thị
trường. Nó phản ánh toàn bộ hoạt động thị trường gộp lại
của tất cả các nhà đầu tư, nó bao gồm những người có cái
nh́n sâu sắc và có thông tin tốt nhất về xu thế và các
sự kiện, nó trung b́nh hoá lại tất cả các biến động từng
ngày, tất cả những cái ǵ diễn ra và các điều kiện tác
động lên cung và cầu các cổ phiếu, kể cả những quyết
định đầu tư bất ngờ không dự đoán được cũng được phản
ánh vào chỉ số trung b́nh.
b. Ba xu thế
thị trường
Xu thế dài
hạn của giá các cổ phiếu được gọi là xu thế cấp một. Xu
thế này biểu thị sự đi lên, đi xuống kéo dài trong một
hoặc vài năm và kết quả là có sự tăng hoặc giảm giá 20%.
Trên đường diễn biến xu thế cấp một xuất hiện các giai
đoạn bị ngắt quăng bởi xu thế cấp hai đi ngược với xu
thế cấp một, nó là các phản ứng hoặc các điều chỉnh khi
xu thế cấp một tăng hoặc giảm quá mức trong một gai đoạn
nào đó. Xu thế cấp hai lại bao gồm các xu thế cấp ba,
thường là các biến động ngày này qua ngày khác, là xu
thế không có vai tṛ quan trọng đối với thị
trường.
c. Xu thế cấp
một
Đó là xu thế
chung về sự đi lên hoặc đi xuống kéo dài trong một hoặc
thậm chí vài năm. Mỗi đợt giá tăng mới lại đạt mức cao
hơn đợt giá tăng lần trước và cứ mỗi đợt phản ứng giá
reaction, xu hướng giảm giá vẫn ở mức cao hơn đợt phản
ứng giá lần trước, nhưng xu thế cấp một vẫn là xu thế
tăng giá. Xu thế cấp một này được gọi là thị trường con
ḅ tót. Ngược lại, mỗi đợt mới giá giảm lại đạt mức thấp
hơn đợt giá giảm lần trước và mỗi đợt tăng giá tiếp theo
không đủ sức đưa mức giá trở về mức tăng giá đợt trước
th́ xu thế cấp một là xu thế giảm giá. Xu thế cấp một
này được gọi là thị trường con
gấu.
d. Xu thế cấp
hai
Đó là các
phản ứng làm ngắt quăng quá tŕnh tăng hoặc giảm của xu
thế cấp một. Chúng là các đợt giảm hoặc điều chỉnh trung
gian xảy ra trên thị trường con ḅ tót hoặc các đợt tăng
giá phản nghịch hoặc hồi phục trung gian trên thị trường
con gấu. Thường th́ xu thế này kéo dài từ ba tuần đến
vài tháng. Chúng thường đảo chiều giá trị khoảng 1/3 đến
2/3 đối với các đợt tăng giảm lần trước trong quá tŕnh
diễn biến của xu thế cấp một. Trong thị trường con ḅ
tót giá tính theo chỉ số b́nh quân ngành công nghiệp có
thể tăng đều đặn, có sự ngắt quăng nhỏ, với việc tăng
giá khoảng 30% so với đợt điều chỉnh của xu thế cấp hai
lần trước. Sự điều chỉnh này có thể đưa đến kết quả giảm
giá 10 điểm đến 20 điểm trước khi đợt tăng giá trung
gian mới của thị trường con ḅ tót lại bắt
đầu.
Như vậy,
chúng ta có hai tiêu chuẩn để nhận biết xu thế cấp hai.
Bất kỳ sự diễn biến giá cả
đi ngược lại với xu thế cấp một và kéo dài trong ba tuần
và đưa đến giảm giá trên 1/3 của đợt giảm giá lần trước
trong xu thế cấp một được coi là xu thế cấp
hai.
e. Xu thế cấp
ba
Đó là các
biến động nhỏ thường th́ trong 6 ngày, ít khi kéo dài trên 3 tuần
và đối với các nhà lư thuyết Dow th́ chúng không có tầm
quan trọng. Thường th́ trong các đợt trung gian, trong
xu thế cấp hai hoặc giữa hai xu thế cấp hai có khoảng 3
đợt sóng nhỏ có thể phân biệt được. Xu thế cấp ba chỉ là
một trong ba xu thế và chúng dễ bị thao
túng.
f. Thị trường
con ḅ tót
Xu thế cấp
một tăng giá được chia thành ba giai đoạn ba
đợt.
Giai đoạn
một là giai đoạn
tích tụ, trong thời gian này người đầu tư có tầm nh́n sẽ
cảm nhận được rằng t́nh h́nh thị trường tuy đang bị đè
nén và bi quan nhưng sẽ đảo chiều, và họ sẵn sàng mua
tất cả các cổ phiếu được chào bán bởi các nhà đầu tư
đang có tâm lư bi quan. Họ sẽ tăng giá chào mua từ từ
một khi khối lượng cổ phiếu chào bán giảm. Các báo cáo
tài chính vẫn phản ánh t́nh h́nh tồi tệ của thị trường
trong giai đoạn này. Hoạt động thị trường ở mức trung
b́nh nhưng bắt đầu các đợt tăng giá đợt tăng giá
nhỏ.
Giai đoạn
hai là giai đoạn
tăng giá mạnh và hoạt động thị trường cũng tăng lên do
có các thông tin tốt lành về t́nh h́nh kinh doanh và do
có xu thế tăng thu nhập trên một cổ phiếu của công ty,
gây nên sự chú ư của công chúng. Chính là trong giai
đoạn này các nhà phân tích kỹ thuật thu hoạch được lợi
nhuận cao nhất.
Giai đoạn ba
là khi thị
trường cháy bỏng và công chúng lao vào sàn giao dịch.
Tất cả các tin tức tài chính đều tốt đẹp, giá tăng đột
biến và các tin tức giá cả được đưa lên trang đầu của
báo chí. Số cổ phiếu các đợt phát hành mới được đưa ra
hàng loạt. Đến giai đoạn này người ta nghĩ rằng thị
trường đă tăng trong hai năm và đă đến lúc phải đặt lại
câu hỏi: có nên bán cổ phiếu đi không? ở giai đoạn sôi
động này khối lượng giao dịch vẫn tăng, giá các cổ phiếu
ít giá trị trước đây tăng đột ngột, nhưng giá các cổ
phiếu độ tín nhiệm cao lại không tăng
nữa.
g. Thị trường
con gấu
Xu thế cấp
một giảm giá này được chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn
một gọi là giai đoạn phân phối nó bắt đầu từ giai đoạn
ba của thị trường con ḅ tót trước đó. ở giai đoạn này
người đầu tư có tầm nh́n cảm nhận được rằng lợi nhuận đă
đạt mức đặc biệt cao và bắt đầu bán cổ phiếu ḿnh nắm
giữ. Khối lượng giao dịch vẫn cao nhưng có xu hướng giảm
trong đợt tăng giá, công chúng vẫn sôi động nhưng đă bắt
đầu có dấu hiệu chập chờn v́ hy vọng về lợi nhuận bắt
đầu tắt dần.
Giai đoạn hai
là giai đoạn hoảng loạn
Số người mua
giảm đi đáng kể, c̣n những người bán th́ mất b́nh tĩnh.
Xu hướng giảm giá gia tăng đột ngột, trong khi khối
lượng giao dịch tăng không b́nh thường.
Sau giai đoạn
hoảng loạn là một giai đoạn tương đối lâu của xu thế cấp
hai hồi phục hoặc củng cố, và sau đó là đến giai đoạn
ba.
Giai đoạn ba
đặc trưng bởi việc bán bắt buộc
của những
người nắm giữ cổ phiếu trong giai đoạn hoảng loạn, hoặc
đă mua trong giai đoạn hoảng loạn v́ giá cổ phiếu lúc đó
có vẻ là rẻ so với mấy tháng trước đó. Các tin tức về
t́nh h́nh kinh doanh bắt đầu xấu đi. Ở giai đoạn ba này
việc giảm giá cổ phiếu không đột ngột như ở giai đoạn
hoảng loạn, nhưng v́ c̣n có những người phải bán bắt
buộc v́ họ cần tiền cho các nhu cầu khác. Các cổ phiếu
có độ tín nhiệm cao giảm giá từ tốn hơn, và trong giai
đoạn cuối này thị trường con gấu tập trung sự chú ư vào
các cổ phiếu này.
Thị trường
con gấu kết thúc khi mọi khả năng về các tin tức xấu đă
được đón nhận hết, và thị trường kết thúc trước khi các
tin tức xấu chấm dứt.
Cần chú ư
rằng thị trường con ḅ tót lần sau không giống hoàn toàn
thị trường con ḅ tót lần trước, cũng vậy đối với các
thị trường con gấu, v́ chúng có thể không qua tất cả các
giai đoạn nêu trên.
Thị trường
con gấu ngắn ngủi có thể không có giai đoạn hoảng loạn.
Giai đoạn thứ ba của thị trường con ḅ tót, giai đoạn
đầu cơ sôi động, có thể kéo dài hơn một năm hoặc chỉ xây
ra trong một hai tháng. Giai đoạn hoảng loạn cũng có thể
chỉ xảy ra trong một hai
tuần.
h. Hai chỉ số
trung b́nh phải cùng xác nhận cho
nhau
Nguyên lư này
là một nguyên lư khó giải thích nhưng đă được thực tế
kiểm chứng. Những ai coi nhẹ nguyên lư này đều đă phải
hối hận. Nguyên lư này nói rằng chỉ một loại chỉ số
không thôi chưa đủ xác nhận tín hiệu bước ngoặt của xu
thế. Ví dụ trong đồ thị nêu trên, hai chỉ số trung b́nh:
chỉ số công nghiệp và chỉ số ngành đường
sắt.
Thị trường
con gấu kéo dài trong vài tháng, sau đó tại điểm a chỉ
số công nghiệp bắt đầu phục hồi đến điểm b, tiếp đó giảm
xuống điểm c là điểm vẫn cao hơn a sau đó lại gia tăng
đến điểm d cao hơn b. Như vậy, chỉ số công nghiệp báo
hiệu sự chuyển hướng xu thế thị trường con gấu sang thị
trường con ḅ tót Nhưng chỉ số ngành đường sắt lại cho
thấy việc giảm từ b xuống c đạt mức thấp hơn đỉnh b. Như
vậy, chỉ số ngành đường sắt không xác nhận chỉ số công
nghiệp. Do đó, xu thế cấp một vẫn phải được coi là xu
thế đi xuống.
i. Khối lượng
tỷ lệ với xu thế
Điều này có
nghĩa rằng các hoạt động giao dịch có xu hướng tăng lên
khi giá hướng theo xu thế cấp một. Trên thị trường con
ḅ tót th́ khối lượng giao dịch tăng lên khi giá tăng và
giảm khi giá giảm. Trên thị trường con gấu th́ khối
lượng giao dịch tăng lên khi giá giảm và giao dịch bị
ngưng trệ khi giá hồi phục. Điều này cũng đúng đối với
xu thế cấp hai. Chú ư rằng tín hiệu có tính thuyết phục
về đảo chiều xu thế có thể rút ra từ phân tích về diễn
biến giá. Khối lượng giao dịch chỉ có tính chất bổ sung
thêm khi c̣n có nghi vấn.
j. Các đường
rẽ có thể thay thế cho xu thế cấp
hai
Các đường rẽ
ở đây là diễn biến đi ra ngoài chiều hướng của chỉ số
b́nh quân, kéo dài trong hai ba tuần hoặc vài tháng,
trong đó giá dao động trong biên độ 5%. Việc xuất hiện
các đường rẽ cho thấy rằng áp lực mua và bán cân bằng
tương đối. Thực ra th́ việc chào bán đă cạn kiệt trong
biên độ giá và những người muốn mua cổ phiếu phải chào
mua với giá cao hơn để các chủ sở hữu cổ phiếu đồng ư
bán; hoặc ngược lại, những người muốn bán cổ phiếu trong
biên độ giá đó thấy rằng những người mua không c̣n nữa
và do đó họ phải giảm giá chào bán để có thể bán ra cổ
phiếu của ḿnh. V́ vậy việc tăng giá lên trên biên độ
giá của đường rẽ là tín hiệu của thị trường con ḅ tót,
và ngược lại việc giảm giá xuống dưới biên độ giá là tín
hiệu thị trường con gấu. Nói chung, đường rẽ càng kéo
dài và biên độ càng nhỏ th́ càng có nhiều khả năng sẽ
xảy ra việc đảo chiều xu thế cấp
một.
Đường rẽ
thường phát triển ở đỉnh hoặc đáy, báo hiệu giai đoạn
phân phối hoặc giai đoạn tích tụ, nhưng có khi là giai
đoạn điều chỉnh hoặc giai đoạn củng cố của xu thế cấp
một đă được xác lập. Trong các trường hợp đó th́ chúng
thay thế xu thế cấp hai. Chiều hướng mà giá sẽ vượt ra
ngoài đường rẽ không thể xác định được trước khi có các
diễn biến thật sự. Biên độ giới hạn 5% là theo kinh
nghiệm; trên thực tế c̣n có biên độ giới hạn lớn hơn.
Đường rẽ trong nhiều trường hợp rất giống với định dạng
h́nh b́nh hành trên đồ thị của một loại cổ phiếu cụ
thể.
k. Chỉ sử
dụng giá đóng cửa
Lư thuyết Dow
không chú ư đến giá cao nhất hoặc giá thấp nhất trong
ngày mà chỉ quan tâm đến giá đóng cửa. Đó là do vai tṛ
tâm lư của giá cuối ngày khi vẽ đồ thị. Ví dụ có một xu
thế cấp hai tăng trên xu thế cấp một và đạt đỉnh tại 11
giờ trong ngày nào đó tại đó chỉ số công nghiệp b́nh
quân là 152,4 điểm, sau đó vào cuối ngày giảm xuống
150,70. Để ghi nhận tiếp tục việc tăng giá trong ngày
hôm sau, để chứng minh rằng xu thế cấp một vẫn là tăng
giá th́ chỉ cần ghi nhận điểm đóng cửa
150,70.
l. Xu thế cần
được coi là vẫn tiếp diễn cho đến thời điểm khi việc đảo
chiều đă được tín hiệu báo động đưa ra một cách chắc
chắn.
Lư thuyết Dow
cảnh báo phải thận trọng khi nhận định về đảo chiều của
thị trường; không nên chạy trước thời gian. Điều này
không có nghĩa là nhà giao dịch phải chờ đợi thêm trong
khi đă có tín hiệu đảo chiều, mà chỉ cảnh báo rằng nhà
giao dịch sẽ có lợi khi chờ đến lúc thực sự chắc chắn về
tín hiệu đảo chiều, và họ phải trả giá đắt khi hành động
mua hoặc bán quá sớm. Thị trường con ḅ tót không thể
tăng vô thời hạn cũng như thị trường con gấu bao giờ
cũng sẽ đạt đáy.
Các động lực
để mua, triển vọng để bán cổ phiếu mới mua để thu hoạch
lợi nhuận sẽ giảm đi khi thị trường con ḅ tót đă tồn
tại trong vài tháng so với t́nh h́nh khi xu thế cấp một
lần đầu tiên mới nhận biết. Nhưng tiền đề này của lư
thuyết Dow nói rằng: Cần phải luôn luôn chuẩn bị sẵn
sàng thay đổi chiều đặt lệnh
Điều cuối
cùng là việc đảo chiều của xu thế có thể xây ra bất kỳ
lúc nào ngay sau khi xu thế trên đă được xác nhận. V́
vậy các nhà phân tích kỹ thuật phải theo sát thị trường
trong mọi lúc khi họ vẫn c̣n trong cuộc chơi. C̣n
tiếp |