|
Cổ
phiếu - Kiến thức cơ bản
Tiến sĩ Đỗ Linh
Hiệp
Hăy bắt đầu t́m hiểu
những kiến thức cơ bản nhất về cổ phiếu – một loại chứng khoán vốn
được giao dịch mua bán phổ biến trên các thị trường chứng khoán hiện
đại.
Cổ phiếu là ǵ ?
- Khi một công ty gọi vốn, số vốn
cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ
phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy
chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ
phần mới phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng
thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ
phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.
- Thông thường hiện nay các công ty
cổ phần thường phát hành 02 dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ
phiếu ưu đăi. Như vậy, sự khác biệt của 02 lọai cổ phiếu cơ bản
này là ǵ?
- Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông
thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như: Được chia
cổ tức theo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ
máy quản trị và kiểm sóat công ty; Và phải chịu trách nhiệm về sự
thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của ḿnh.
- Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu
đăi cũng là h́nh thức đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu thông thường
nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cố định; không
có quyền bầu cử, ứng cử..v.v.
Công ty cổ phần là ǵ?
- Đó là một dạng pháp nhân có trách
nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ
thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng
nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của
các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Các nhà đầu tư trở
thành những cổ đông chính thức của công ty khi thực hiện mua các
cổ phần do công ty phát hành. Cổ đông được quyền tham gia quản lư,
kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào
các vị trí trong Ban Quản Lư, Ban Kiểm Soát và Ban Điều Hành.
Ngoài ra, cổ đông c̣n được quyền hưởng các khoản lợi nhuận do công
ty tạo ra cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ góp vốn.
- Ưu điểm của loại h́nh công ty cổ
phần là Nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng với tỷ
lệ góp vốn trong công ty; Quy mô hoạt động lớn và khả năng mở rộng
kinh doanh dễ dàng từ việc huy động vốn cổ phần; Nhà đầu tư có khả
năng điều chuyển vốn đầu tư từ nơi này sang nơi khác, từ lĩnh vực
này sang lĩnh vực khác dễ dàng thông qua h́nh thức chuyển nhượng,
mua bán cổ phần; Công tác quản lư hiệu quả cao do tính độc lập
giữa quản lư và sở hữu.
Bên cạnh những ưu
điểm, loại h́nh công ty này cũng có những nhược điểm cơ bản, cụ thể
là: Mức thuế tương đối cao v́ ngoài thuế, công ty phải thực hiện
nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, các cổ đông c̣n phải chịu thuế thu
nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lăi cổ phần theo qui định của nhà
nước; Chi phí thành lập công ty khá tốn kém; Khả năng bảo mật kinh
doanh và tài chánh bị hạn chế do phải công khai và báo cáo với các
cổ đông của công ty; Khả năng thay đổi phạm vi kinh doanh kém linh
hoạt do phải tuân thủ theo những qui định trong Bản Điều Lệ của công
ty. Tuy nhiên, với môi trường kinh doanh hiện nay trên thế giới cũng
như tại Việt Nam, những nhược điểm trên hoàn toàn có khả năng khắc
phục, hạn chế tối đa và đồng thời phát huy được những ưu điểm của
loại h́nh này.
Tại sao công ty lại phát hành cổ phiếu
?
- Công ty huy động vốn khi thành
lập hoặc để mở rộng kinh doanh bằng h́nh thức phát hành cổ phiếu
th́ nguồn vốn huy động đó không cấu thành một khoản nợ mà công ty
phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối
thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các
phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các
tổ chức tín dụng ...th́ hoàn toàn ngược lại. Tuy nhiên, mỗi phương
thức huy động đều có những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lư công
ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những
đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của công ty để quyết định
phương thức áp dụng thích hợp.
Tại sao các nhà đầu tư chấp nhận trả một khoản
tiền nhất định để nhận lại một mảnh giấy nhỏ được gọi là giấy chứng
nhận cổ phần? và họ trông đợi ǵ khi mua cổ phiếu của một công ty
phát hành hoặc từ những nhà đầu tư khác ?
- Theo định nghĩa cơ bản, giấy
chứng nhận cổ phần là một dạng chứng thư có giá được xác định
thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên thị trường chứng
khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ. Mặt khác,
người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản
lư công ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh
giá hoạt động cũng như tiềm năng phát triển, sinh lợi của công ty
dự định đầu tư là cao, và đương nhiên họ sẽ được hưởng một phần từ
những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức cho các cổ
đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở
thực tại và triển vọng phát triển của công ty ḿnh đă chọn. Thông
thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận
với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường.
(Tiến sĩ Đỗ Linh Hiệp
- Trưởng Khoa Tiền tệ - Học viện Ngân hàng)
|