Phân tích kỹ thuật: Hỗ trợ và kháng cự, Đường
xu thế
a. Khái niệm
hỗ trợ và kháng cự
Hỗ trợ và
kháng cự là một tiếp cận khác hoàn toàn với tiếp cận
định dạng tŕnh bày trước đây về hành vi của thị trường.
Nó cho phép đưa ra quy tắc lựa chọn cổ phiếu để mua hoặc
bán, trong việc đánh giá diễn biến giá cả của cổ phiếu
và xác định vùng có vấn đề. Một số nhà phân tích đă xây
dựng cho ḿnh một hệ thống riêng chỉ dựa vào khái niệm
hỗ trợ và kháng cự và không cần để ư đến các định dạng
giá cả và khối lượng nêu ở trên.
Hỗ trợ được
hiểu như sau: ví dụ, một đám đông hỗ trợ cổ phiếu A tại
giá 60, tức là sẵn sàng mua tất cả các cổ phiếu A với
giá thấp hơn 5 điểm so với 60. Hỗ trợ là việc mua một
khối lượng cổ phiếu đủ lớn để ngăn chặn xu hướng giảm
giá trong một giai đoạn nào đó. Kháng cự được hiểu là
ngược lại với hỗ trợ: bán cổ phiếu với khối lượng đủ lớn
để đáp ứng tất cả các khoản chào mua, và do đó ngăn chặn
không cho giá tăng lên. Như vậy, hỗ trợ và kháng cự gần
như được hiểu là cầu và cung tương
ứng.
Mức hỗ trợ là
mức giá tại đó có đủ một khối lượng cầu mua cổ phiếu để
ngăn chặn xu hướng giảm giá, hoặc có thể tăng giá. Mức
kháng cự là mức giá tại đó có đủ chứng khoán cung ra để
ngăn chặn xu hướng tăng giá. Vậy vùng hỗ trợ thể hiện sự
tập trung của cầu và vùng kháng cự thể hiện sự tập trung
của cung. Ví dụ, đường biên phía trên của h́nh thang là
mức kháng cự, c̣n đường biên phía dưới là mức hỗ trợ.
Đường biên phía trên của tam giác đi lên là mức kháng
cự.
Cơ sở của dự
đoán từ lư thuyết hỗ trợ và kháng cự là khối lượng giao
dịch của một loại cổ phiếu có xu hướng tập trung lớn tại
một số mức giá, tại đó có nhiều cổ phiếu được trao tay
nhau. V́ bất kỳ mức giá nào mà tại đó có khối lượng lớn
giao dịch xảy ra thường là điểm đảo chiều của xu thế cấp
một, cấp hai, cấp ba, v́ vậy đảo chiều tại các mức giá
đó luôn luôn có thể xảy ra. Tuy vậy, cần chú ư rằng các
mức giá này thường xuyên thay đổi vai tṛ từ hỗ trợ sang
kháng cự và ngược lại.
Một đỉnh, khi
giá cổ phiếu đă vượt qua, có thể trở thành vùng đáy của
xu thế đi xuống ở giai đoạn sau này, và một đáy cũ, một
khi giá đă tụt qua nó, có thể trở thành vùng
đáy của
giai đoạn tăng giá sau
này.
b. Ví dụ giải
thích
Giả sử giá
tăng, đạt 65, 68, 70. Chủ sở hữu cổ phiếu cho rằng họ đă
nhận định đúng, v́ vậy họ vẫn chờ đợi. Nhưng sau đó giai
đoạn giá tăng chấm dứt và giá bắt đầu tụt xuống 67, 65,
62, 60. Chủ sở hữu sẽ lo lắng nhưng họ vẫn tin sẽ có cơ
hội thu lăi. Tại 60 giá bắt đầu chững lại một thời gian,
sau đó giá giảm đột ngột. Người ta vẫn hy vọng việc giảm
đột ngột này chỉ là sự điều chỉnh, nhưng hy vọng sẽ tiêu
tan khi xu thế đi xuống vẫn tiếp tục. Các chủ sở hữu cổ
phiếu bắt đầu lo thực sự:
có cái ǵ đó
sai trái ở đây? Khi giá tụt đến 55 th́ không c̣n hy vọng
thu lợi nhuận. Họ lập luận rằng phải kiên nhẫn chờ để
giá quay trở lại 60 và tại đó họ sẽ rút lui khỏi thị
trường.
Bây giờ ta
xét trường hợp xu thế đi lên. Giá cổ phiếu đạt 12, sau
đó tăng đến 24 và do đó người sở hữu cổ phiếu bán ra để
thu lợi nhuận. Cổ phiếu phản ứng, tụt xuống 21 và người
đầu tư thấy ḿnh đă gặp may. Nhưng sau đó giá lại vượt
lên 30. Người chủ sở hữu cổ phiếu trước đây cảm thấy bị
hớ, do đó họ lại muốn mua lại cổ phiếu, nhưng họ sẽ
không mua với giá cao hơn 24. Đó là diễn biến chung của
tâm lư thị trường.
Như vậy chúng
ta đă giải thích nguyên lư cơ bản của mức hỗ trợ và
kháng cự. Cần chú ư rằng sự cân bằng cung và cầu trên
thị trường là vấn đề tế nhị. Chỉ cần có một mức cung dư
thừa nhỏ là có thể kiềm chế sự tăng giá, và chỉ cần một
mức cầu dư thừa là có thể ḱm hăm sự giảm giá. Tất cả
các nhà giao dịch đều theo dơi sát sao thị trường và có
thể nhận ra ngay một sự thay đổi của t́nh h́nh, và họ
sẵn sàng tham gia vào cuộc chơi khi sự thay đổi của xu
thế xuất hiện. V́ vậy chỉ cần thêm một ít các lệnh mua
hoặc lệnh bán cổ phiếu là có thể kéo theo sự chuyển giao
hàng ngh́n cổ phiếu.
Các nhà giao
dịch và các nhà đầu tư khi họ tạo nên mức hỗ trợ hoặc
kháng cự đều là những người có kinh nghiệm và thông thái
trong việc tham gia vào hoạt động thị trường. Ví dụ, như
trên đă nêu ra, những người mua tại giá 60 chắc chắn là
thông minh hơn những người mua tại đỉnh 70 hoặc tại các
điểm trong giai đoạn giảm giá xuống 60. Như vậy có thể
nói rằng họ đánh giá t́nh h́nh sau này một cách thận
trọng và khôn ngoan hơn những người bảo thủ quyết định
ra khỏi cuộc chơi bằng cách bán ra khi thị trường đang
hồi phục. Tức là khi thị trường chuyển sang xu thế giảm
và họ đă mua cổ phiếu với giá cao th́ nay họ chờ đợi cơ
hội để bán ra với giá thấp hơn là mức kháng cự. Những
người thông minh sẵn sàng chịu hy sinh vài điểm để tránh
rơi vào t́nh thế thua lỗ quá
lớn.
Cũng vậy, tại
thị trường con ḅ tót nhà đầu tư sẵn sàng trả thêm hai
ba điểm để thay thế các cổ phiếu bán ra trước đây. Như
vậy có một đặc trưng phản ứng đối với thị trường con ḅ
tót là giá chỉ giảm đến một mức giới hạn của hỗ trợ - và
đối với thị trường con gấu th́ đợt tăng giá chỉ đạt mức
thấp nhất của vùng kháng
cự.
c. Đánh giá
cường độ của hỗ trợ - kháng
cự
Nguyên lư đầu
tiên là kháng cự trong giai đoạn tăng giá phải được đáp
ứng tại mọi mức giá bởi
số lượng cổ phiếu tồn đọng lần trước đó - số cổ phiếu
mua trước đó tại mức giá này và người sở hữu chúng muốn
bán hết ra để tránh bị lỗ. V́ vậy, khối lượng cổ phiếu
là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá sức mạnh của vùng
kháng cự.
Tại một đáy
mà chỉ có 400-500 cổ phiếu trao tay không thể làm mức
kháng cự đối với đợt tăng giá sau này, nhưng nếu tại đáy
mà có không khí bán cổ phiếu mức hàng ngh́n sẽ tạo ra
mức cung tiềm năng sau này, sau khi giá giảm dưới đáy
trước và sau đó giá lại tăng để ḥng vượt qua đáy trước
đây.
SH́nh b́nh
hành hoặc tam giác đi xuống có một số đáy bằng nhau.
Chúng ta có thể đánh giá sơ bộ về mức kháng cự này bằng
cách cộng tất cả các giao dịch tại các đáy này. Nếu chỉ
có một đáy với khối lượng giao dịch khá lớn th́ đó có
nhiều khả năng là mức kháng cự hơn là trường hợp có
nhiều đáy với tổng khối lượng giao dịch bằng trường hợp
trên.
Tiêu chuẩn
thứ hai là mức độ giảm giá sau đó, tức là giá phải tăng
trong một khoảng bao nhiêu để đạt mức đáy cũ, là mức ta
dự kiến đánh giá kháng cự. Nếu khoảng cách càng lớn th́
khả năng mức kháng cự càng nhiều. Ví dụ cổ phiếu bán ra
trong giai đoạn giảm giá từ 30 xuống 20, sau đó ngập
ngừng tại 20 trong vài ngày, tăng lên 24 và sau đó giảm
xuống 19. Người đầu tư đă mua cổ phiếu giá 20 sẽ không
lo lắng về t́nh h́nh này. Nếu giá bắt đầu tăng từ 19 th́
sẽ có một ít số người quan tâm đến việc bán ra tại 20.
Nếu giá tụt xuống 18 sau đó tăng trở lại, th́ có nhiều
người hơn muốn bán ra cổ phiếu tại giá 20. C̣n nếu là
tăng từ giá 17 th́ 20 sẽ là mức kháng
cự.
Như vậy,
không thể t́m được nhiều cổ phiếu bán ra cung tại đáy ở
trong khoảng 20 đến 35 nếu
như không có mức giá thấp hơn 10% ở dưới khoảng trên.
Quy tắc 10% không áp dụng đồng đều cho mọi cổ phiếu. Ví
dụ, cổ phiếu có giá 3 đến 4 khác với loại cổ phiếu giá
từ 20 đến 35.
Mặt khác, cần
chú ư đến mức độ giảm giá. Nếu giá từ 20 đến 24 giảm
xuống 12 th́ không những các nhà đầu tư đă mua vào với
giá 20 sẵn sàng bán ra với mức giá đó, mà các nhà đầu tư
đă mua với giá 12 cũng sẵn sàng bán ra với giá 20. Nhưng
nhà đầu tư nếu mua cổ phiếu tại giá 18 th́ không sẵn
sàng bán ra với giá 20.
Tiêu chuẩn
thứ ba đánh giá cường độ của kháng cự tại một đáy trước
đây là khoảng thời gian dài hay ngắn tính từ lúc xuất
hiện đáy này trở đi và bản chất của diễn biến thị trường
sau đó. Ví dụ đáy của xu thế cấp hai h́nh thành trong
giai đoạn đầu của thị trường con ḅ tót sẽ có mức độ
kháng cự thấp nếu sau đó giá giảm trong một thời gian
dài một năm để sau đó đần dần tăng lên sau bốn năm. Việc
bán ra cổ phiếu sau một hai năm sẽ có nhiều khả năng hơn
là việc bán ra cổ phiếu sau bốn
năm.
Nếu vùng
kháng cự đă bị tấn công một lần và sau đó giá lại giảm
th́ cường độ kháng cự sau này sẽ yếu đi. V́ một số cổ
phiếu tồn đọng trước đă bán ra, do đó đợt tấn công thứ
hai sẽ có ít cổ phiếu trong tay có thể tung ra để kháng
cự lại xu thể tăng giá.
Như vậy,
chúng ta đă ra ba tiêu chuẩn về cường độ kháng cự:
khối lượng, khoảng cách và thời
gian. Tuy vậy, sự suy đoán của bản thân người
đầu tư là nhân tố đặc biệt quan
trọng.
d. Đánh giá
mức giá cụ thể
Trong thực tế
mua bán chứng khoán, việc xác định chính xác vùng hỗ trợ
và kháng cự không phải dễ dàng. Vấn đề là xét loại đồ
thị có ích nhất trong việc xác định mức hỗ trợ hoặc
kháng cự. Đối với các diễn biến cấp ba th́ đồ thị theo
ngày là nguồn thông tin duy nhất, và đồ thị theo ngày
kéo dài trong một năm sẽ có ích cho việc xác định mức hỗ
trợ và kháng cự của xu thế cấp hai. Tuy vậy, đồ thị theo
ngày không cho một bức tranh toàn cảnh về triển vọng dài
hạn để xác định mức hỗ trợ và kháng cự của xu thế cấp
một và hai. Đồ thị theo tuần, gồm mức giá và khối lượng
giao dịch, kéo dài trong cả một thời kỳ của thị trường
con ḅ tót và thị trường con gấu là hữu ích đối với việc
xác định mức hỗ trợ và kháng cự.
Nếu nói về xu
thế chung, th́ chúng là một cách biểu diễn lư tưởng của
tất cả diễn biến thực tế cụ thể. Nếu nó là xu thế đi lên
th́ nó bao gồm các đợt lên xuống mà mỗi đợt mức lên lại
cao hơn mức đi xuống trước đó. Ví dụ tăng đến 10, giảm
xuống 6, tăng lên 15, giảm xuống 10, tăng lên 20. V́
vậy, việc xác định mức hỗ trợ và kháng cự phải qua kinh
nghiệm phân tích các đồ thị cụ
thể.
e. Sự diễn
biến của một xu thế
Giả sử cổ
phiếu đang ở xu thế thị trường con ḅ tót, tăng từ 12
lên 24, và tại đó khối lượng bán ra khá lớn. Kết quả là
xuất hiện phản ứng: có sự điều chỉnh xu thế cấp hai từ
24 xuống 18, hoặc một dăy các dao động nhỏ h́nh thành
nên trạng thái điều chỉnh, từ 24 xuống 21. Tiếp theo sự
điều chỉnh là một giai đoạn tăng giá xuất hiện, đạt tới
30 trước khi vấp phải khối lượng cung cổ phiếu tập
trung. Vậy xuất hiện một đợt phản ứng mới, hoặc là điều
chỉnh cấp ba hoặc cấp hai. Nếu vậy th́ sau đó mức hỗ trợ
ở đâu? Tất nhiên là tại 24, là mức của đỉnh lần đầu. Như
vậy, trước đó đỉnh này làm chức năng kháng cự, và nay
làm chức năng hỗ trợ.
Giả sử có xu
thế cấp một giảm giá. Ví dụ đỉnh của xu thế cấp một giảm
từ 70 xuống 50. Tại 50 xuất hiện không khí bán tạm thời
cổ phiếu. Tại 50 có khối lượng lớn cổ phiếu được giao
dịch, tiếp đó giá tăng đến 60. Tại 60 nhu cầu mua cổ
phiếu chấm dứt, giá giảm và khối lượng giao dịch tăng
tại 42. Một làn sóng mua xuất hiện, và sự hồi phục đợt
hai xuất hiện, giá đạt mức 50. Mức giá. làm chức năng hỗ
trợ ở giai đoạn một của xu thế cấp một giảm giá bây giờ
chuyển sang làm vai tṛ kháng cự ở giai đoạn hồi phục
thứ hai.
ĐƯỜNG
XU THẾ
a. Đường xu
thế
Trước đây đă
đề cập nhiều đến xu thế. Để xem xét kỹ xu thế, v́ vậy,
cần t́m cách vẽ đường xu thế một cách có hiệu quả nhất.
Có một nhận xét chung là hầu hết các xu thế cấp hai và
cấp ba hầu như đi theo đường thẳng. Các đường thẳng trên
đường xu thế giảm cấp một thường là đường nối các đáy
của các xu thế cấp ba. Ngược lại, trên đường tăng xu thế
cấp một đường thẳng nối các đỉnh của xu thế cấp ba là
đường xu thế cấp một. Như vậy, đường thẳng đi lên nêu
trên của xu thế cấp một nối với đường thẳng đi xuống của
xu thế cấp một là đường cơ bản của xu thế. Có thể vẽ
thêm đường kép xu thế cấp một bằng cách nối các đáy khác
hoặc các đỉnh khác của xu thế cấp một. Giả sử xu thế cấp
một đi lên có thể vẽ đường xu thế đi qua các đáy của xu
thế. Đường thẳng đi qua các đỉnh của xu thế cấp ba lúc
đó được gọi là đường thu hoạch return line. Vùng giữa
đường thu hoạch và đường xu thế được gọi là vùng kênh
channels.
b. Các đường
xu thế cấp hai
Với xu thế
chung tăng giá, chúng ta có các giai đoạn cấp hai tăng,
tức là đường xu thế cấp hai nằm trên xu thế cấp một tăng
giá trong thị trường con ḅ tót. Xu thế cấp hai giảm giá
nằm trong thị trường con gấu có khác với xu thế cấp hai
trong thị trường con ḅ
tót.
Đường xu thế
cấp hai giảm trong thị trường con gấu không có quy luật
đều đặn như đối với trường hợp thị trường con ḅ
tót.
Góc độ dốc
của đường xu thế cấp hai thường là lớn, đặc biệt trong
thời kỳ hoảng loạn đặc trưng của giai đoạn hai của thị
trường này. Mặt khác, giá có xu hướng tụt xa khỏi đường
xu thế là đường thẳng đi qua hai đỉnh đầu tiên của thị
trường con gấu. Giá cả có xu hướng giảm một thời gian,
ngập ngừng một thời gian tại đáy, chuyển sang giai đoạn
rẽ ngang, và xu thế sẽ không đảo chiều đi lên cho đến
khi đi qua đường xu thế cấp một. Cũng v́ vậy mà đường
thu hoạch ít khi được sử dụng đến. Một đặc trưng nữa là
ở giai đoạn cuối cùng của thị trường con gấu, giai đoạn
xu thế cấp hai đi xuống lần cuối cùng để sau đó đảo
chiều nói chung là tuân theo quy luật chung một cách rơ
nét. V́ vậy, khi nhận biết xu thế cấp hai đi xuống theo
một quy luật rơ nét th́ đó là sự báo hiệu kết thúc của
thị trường con gấu.
Sau khi thị
trường con gấu đă đi được một quăng thời gian và trải
qua giai đoạn bán tháo, thị trường đi vào giai đoạn ít
hoạt động ít giao dịch nhưng có xu hướng giảm giá một
cách có trật tự hơn. Nếu đường xu thế cấp hai này đă
giảm giá nhưng không quá mức và tiếp xúc nhiều lần với
các đợt tăng giá của xu thế cấp ba th́ giá sẽ không có
khả năng giảm đột ngột nữa. Tiếp đó việc giá đi lên
xuyên qua đường xu thế cấp một sẽ là tín hiệu đảo chiều
để chuyển sang thị trường con ḅ
tót.