Hỏi đáp nhanh về cổ phiếu

Tiến sĩ Đỗ Linh Hiệp

1. Khi đầu tư cổ phiếu, người ta có thể gặp phải những nguy cơ nào ?

Người đầu tư có thể đối mặt với hai lọai nguy cơ chủ yếu: Hữu h́nh (Công ty mà bạn chọn mua cổ phiếu bị thua lỗ, bị phá sản ... ) và Vô h́nh (do lạm phát làm giảm sức mua của đồng tiền). Trong một nền kinh tế không ổn định, nguy cơ lạm phát thường xuyên đe dọa khiến cho cả người trong nước lẫn người ng̣ai nước đều không dám mạnh dạn bỏ tiền đầu tư. Do đó, chống lạm phát là một biện pháp hàng đầu để tạo điều kiện thu hút đầu tư trong và ng̣ai nước . Tuy nhiên, khả năng lạm phát nhẹ mang yếu tích cực cho nền kinh tế phát triển th́ ḥan ṭan hợp lư và chấp nhận được.

2. Đầu tư vào việc mua công trái nhà nước lợi và hại ra sao ?

  • Công trái nhà nước là một loại chứng khoán mang tính bảo đảm chi trả tuyệt đối cao, gồm hai lọai:

a- Loại có thể mua đi bán lại do giá cả lên xuống trên thị trường

b- Lọai không được mua bán do đó có giá trị cố định.

  • Lọai đầu bao gồm tất cả các chứng khóan nhà nước (government securities), trừ các trái khóan tiết kiệm. Chúng có thể là các trái phiếu ngắn hạn của kho bạc (trong ṿng 90 ngày), các chứng chỉ tiền vay (thường thường đáo hạn trong ṿng 1 năm), các trái khóan kho bạc trung hạn (thời hạn từ 1 đến 5 năm) và các trái khoan dài hạn ( chỉ phát hành cho thời hạn trên 5 năm). Sau khi phát hành, các lọai công trái này được mua bán trên cơ sở qui luật cung cầu, do đó, chịu biến đông theo giá cả thị trường – tức lăi suất ngân hàng. Khi lăi suất ngân hàng gia tăng, giá cả chứng khóan nhà nước sẽ giảm và ngược lại, tuy vậy, điều này chỉ trở nên hợp lư đối với các chứng khóan trung dài hạn.
  • Lọai thứ nh́ tức là các trái khóan tiết kiệm (saving bonds) là loại bị giới hạn chuyển nhượng được do kư danh, v́ thế rất ít được thực hiện giao dịch mua bán. Thay vào đó, nếu người nắm giữ các trái khóan này cần đến tiền mặt th́ họ phải giao lại trái khóan cho nhà nước để được nhà nước trả cho một khỏan tiền nhất định, tùy theo họ đă mua các trái khóan tiết kiệm này mau hay lâu .

Trong cả hai trường hợp, nhà đầu tư đều biết rơ ḿnh sẽ nhận được ǵ, và phần thu nhập của họ từ việc mua bán các chứng kḥan này là tuyệt đối được bảo đảm. Do đó, nhà đầu tư không vấp phải lọai nguy cơ hữu h́nh (xem câu 1) có thể làm mất vốn. Song họ vẫn gặp phải nguy cơ vô h́nh, tức nạn lạm phát, làm giảm sức mua của những đồng tiền mà họ nhận được sau 1 quá tŕnh đầu tư.

3. Cổ đông tham gia quản kư công ty như thế nào ?

  • Cổ đông là người chủ sở hữu một phần công ty nên có quyền tham gia quản lư công ty thông qua quyền bầu cử. Quyền này được thực hiện trực tiếp nếu họ tham gia đại hội, hoặc gián tiếp bằng cách ủy quyền bằng văn bản cho người khác bỏ phiếu thay ḿnh, khi v́ lư do nào đó họ không dự họp được. Song luật thường qui định rằng phải có đa số nào đó của cổ đông đại diện cho đa số cổ phiếu trực tiếp tham dự cuộc họp th́ đại hội cổ đông mới có giá trị.
  • Việc vận động sự ủy quyền bỏ phiếu được ban giám đốc công ty tiến hành bằng chi phí của công ty ( thẻ ủy quyền in sẵn, cước phí bưu điện ... ). Trong những công ty có số lượng cổ đông khổng lồ, việc vận động này thường đem lại kết quả là giữ nguyên thành phần cũ tại chức, hay thay thế bằng một thành phần mới do chính những thành phần cũ chọn giới thiệu ra ứng cử. Nếu có ai đó ng̣ai hội đồng quản trị muốn tranh thủ sự ửy quyền này, họ phải chi tiêu một món tiền không nhỏ để in & gởi thẻ ủy quyền. Giả sử một công ty lớn có 250.000 cổ đông, chi phí này có thể lên đến 250 USD( ở Mỹ , các công ty như ATT, GMC,IBM có số lượng cổ đông lên đến hàng triệu, chi phí này càng cao gấp nhiều lần).

4. Quyền bầu cử của cổ đông được thực hiện dưới h́nh thức nào ?

Có thể thực hiện việc bầu cử theo hai phương thức: song nguyên tắc căn bản vẫn là mỗi cổ phiếu được quyền có một phiếu bầu cho một người cho đến khi đủ số thành viên Hội Đồng quản trị .

  1. Giả sử phải bầu 5 nguời vào hội đồng quản trị. Cổ đông A có 1 cổ phiếu sẽ được bầu 1 phiếu cho từng người, nghiă là tổng cộng 5 phiếu bầu cho 5 người riêng biệt. Cổ đông B có 3 cổ phiếu sẽ được bầu 3 phiếu cho từng người, nghĩa là tổng cộng 15 phiếu. Cách này bảo đảm cổ đông nào có nhiều cổ phần (nhiều cổ phiếu) sẽ được cử người ḿnh tín nhiệm vào hội đồng quản trị.
  2. Cũng với giả sử phải bầu 5 người vào hội đồng quản trị. Theo như cách thứ nh́, cổ đông A có quyền dồn hết 5 phiếu bầu của ḿnh cho một người duy nhất mà ḿnh dồn sự ủng hộ. Cổ đông B cũng có quyền dồn hết 15 phiếu cho một người. Phương pháp này là phương pháp bầu cử dồn phiếu (commulative voting) nhằm mục đích cho những người sở hữu một bộ phận nhỏ cổ phiếu cũng có khả năng bầu được ít nhất một người mà họ tập trung ủng hộ vào trong hội đồng quản trị. Tại Mỹ có 22 tiểu bang yêu cầu công ty cổ phần tiến hành bầu theo phương thức này .

5. Ngoài quyền bầu phiếu, các cổ đông c̣n được hưởng những quyền lợi nào?

Cổ đông c̣n được hưởng những quyền lợi sau:

  1. Được nhận cổ tức (lăi cổ phần) tỷ lệ với số cổ phần mà họ nắm giữ, với điều kiện là các khỏan lăi cổ phần đó đă được hội đồng quản trị công bố hợp pháp, việc công bố này là quyền hành chỉ dành cho hội đồng quản trị.
  2. Được quyền nắm giữ hay bán đi các chứng chỉ cổ phần được đăng kư dưới tên ḿnh.
  3. Được chia xẻ theo tỷ lệ tương ứng số tài sản c̣n lại sau khi đă trả nợ , nếu công ty bị giải thể.
  4. Được quyền đăng kư mua những cổ phiếu mới phát hành thêm về sau, trước khi chúng được đem bán rộng răi cho công chúng, trừ khi cổ đông khước từ quyền này .
  5. Được quyền kiểm tra sổ sách giấy tờ khi nêu lên được lư do chính đáng hoặc theo các qui định cụ thể trong Bản Điều Lệ, Bản Cáo Bạch ...

6. V́ sao người ta mua cổ phần của một công ty ?

Người ta mua cổ phần của một công ty v́ nghĩ rằng công ty ấy đang hoặc sẽ ăn nên làm ra, do đó họ sẽ hưởng lợi dưới hai h́nh thức: trước hết là thông qua việc đước hưởng lăi cổ phần, c̣n gọi là cổ tức (dividend), và sau đó, thông qua việc gia tăng trị giá cổ phần của công ty ḿnh đă chọn. V́ lư do này, những công ty đang gặp khó khăn, hoặc làm ăn thua lỗ, tuy được các cơ quan có thẩm quyền pháp định cho phép phát hành cổ phần, song các cổ phần này rất khó t́m được người mua, v́ triển vọng rủi ro nằm ở mưc độ cao.

7. Thư giá (Book value) hay giá trị theo sổ sách mới là trị giá thực của cổ phiếu?

  • Ngày nay, ngay cả thư giá cũng chẳng có ư nghĩa thực sự ǵ nhiều lắm khác với thế kỷ XIX. ở thế kỷ trước, thường người ta lợi dụng thư giá để bán các cổ phiếu no nước (watered stock) cho các cổ đông chưa có kinh nghiệm. Từ ngữ no nước được mượn từ cách buôn gia súc trước đây: cho gia súc ăn thật nhiều muối trên đường đi đến chợ, rồi cho chúng uống thật nhiều nước ngay trước khi cân để gia tăng trọng lương một cách giả tạo.
  • Cổ phiếu no nước là loại cổ phiếu được các công ty phát hành với một trị giá lạm phát. Chẳng hạn một doanh nhân không lương thiện có thể chỉ trả 500 triệu đồng để mua một công ty, rồi phát hành các cổ phần trị giá một tỷ đồng. Ông ta có thể bán hết các cổ phần cho người khác, và bỏ túi 500 triệu lợi nhuận hoặc có thể ông ta chỉ bán phân nửa số cổ phần theo giá giả tạo như thế để thu hồi vốn đă bỏ ra, c̣n th́ vẫn giữ lại cho ḿnh nửa tổng số cổ phần. Như thế ông ta sẽ được chia phân nửa tổng số lăi cổ phần của công ty mà thực ra không phải tốn đồng xu cắc bạc nào mua cổ phiếu. Nhờ đề cao đạo đức kinh doanh, đồng thời nhờ các qui định chặt chẽ của nhà nước, ngày nay các kiểu làm ăn như trên hầu như không c̣n tồn tại nữa .

8. Vậy, nói cho cùng , điều quan trọng nhất khi mua cổ phiếu là ǵ ?

  • Như chúng ta đă thấy, trị giá ngang giá chỉ có giá trị h́nh thức, thư giá cũng chẳng có nghĩa ǵ quan trọng lắm. Điều quan trọng là khả năng sinh lợi và các triển vọng tăng trưởng của công ty, chứ không phải tổng trị giá nhà xưởng và máy móc thiết bị của nó. Cổ phiếu của đa số công ty lớn thường được bán với một giá cáo hơn nhiều so với thư giá của nó - đôi khi cao gấp đôi hay gấp ba lần. Ngược lại có những công ty đ̣i hỏi phải đầu tư lớn, như các công ty đường sắt, giá cổ phiếu bán ra thường thấp hơn thư giá cổ phiếu rất nhiều.
  • Người ta thường có quan niệm rằng thư giá chính là trị giá mà người chủ sở hữu cổ phần sẽ được trả một khi công ty bị giải thể - tức ngưng họat động và thanh lư tất cả tài sản. Đây cũng thường là quan niệm sai lầm v́ khi công ty bị giải thể, hiếm khi nào công ty nhận được đầy đủ trị giá các tài sản mà nó có trong tay.

9. Làm cách nào biết được một cổ phiếu của công ty thực ra trị giá bao nhiêu?

  • Chỉ có một cách trả lời. Nói trắng ra, một cổ phiếu chỉ đáng với cái giá mà một người nào đó muốn trả để mua nó, khi chúng ta muốn bán nó.
  • Nếu sản phẩm không được người tiêu dùng ưa chuộng và doanh số bị sút giảm, nếu chi phí về lương bổng và nguyên liệu quá cao, nếu việc quản lư thiếu hiệu quả không đứng vững trong cạnh tranh, công ty có thể lâm vào t́nh trạng phá sản. Khi đó, cổ phiếu của các cổ đông có thể trở thành không có giá trị ǵ. Đây là mặt trái của tấm huy chương, và là điều sẽ xảy đến nếu khi mua cổ phần ta chọn nhầm một công ty làm ăn bê bối. Ngược lại, khi công ty phát đạt, trị giá của cổ phiếu sẽ được gia tăng như đă tŕnh bày, nghĩa là sẽ có sự gia tăng trong cái giá mà một người khác muốn trả để mua cổ phiếu. Đây là hiện tượng nâng giá cổ phiếu (price appreciation).
  • Giống như giá cả của hầu hết tất cả mọi hàng hoá khác trên thế giới, giá cả của cổ phiếu cũng bị chi phối bằng qui luật cung cầu - bằng những ǵ mà người này muốn trả để mua cổ phiếu và những ǵ mà người khác muốn bán cổ phiếu để thu về, bằng những ǵ mà một người trả giá và những ǵ mà người khác ra giá.

10. Có phải mua cổ phiếu có giá cao trên thị trường so với các cổ phiếu khác là đầu tư đúng hướng hay không ?

  • Không nên quên rằng giá cả nhất thiết là dấu hiệu đáng tin cậy chỉ dẫn cho ta biết đă đầu tư đúng hướng. Một số người nghĩ rằng mua được một cổ phiếu giá hạ là mua được một món hời, ngược lại , cổ phiếu giá cao là hao tốn. Thật ra không phải thế. Cổ phiếu của một công ty có thể bán ra ở một giá hạ chỉ v́ với một số vốn nhất định, công ty ấy đă chia thành một khối lượng lớn cổ phần. Trong khi đó, một công ty khác có cùng số vốn bằng với công ty ấy có thể qui định số lượng cổ phần ít hơn, do đó giá một cổ phần sẽ cao hơn. Giá cả của một cổ phiếu chỉ có ư nghĩa khi chúng ta xem xét mối tương quan giữa giá cả đó với thu nhập và lăi cổ phần (cổ tức) tính trên mỗi cổ phiếu.

11. Mua cổ phiếu của một công ty lớn có khác giá với mua cổ phiếu một công ty nhỏ hay không ?

  • Về nguyên tắc không có ǵ khác nhau cả, v́ mỗi cổ đông đều có cùng quyền, cùng những đặc quyền và trách nhiệm. Chỉ có một điểm khác nhau duy nhất: Các công ty lớn thường là đă họat đông trong thương trường từ nhiều năm. Chúng ta có biết đôi chút về chúng và về thanh danh của chúng. Chúng ta cũng biết rơ các sản phẩm và dịch vụ của chúng tốt xấu ra sao. Chúng ta cũng có thể xem xét kỹ lịch sử tài chính của công ty, khảo sát biến thiên của giá cả cổ phiếu qua các giai đọan nhiều năm, cũng như thành tích của công ty. Căn cứ trên nhiều nguồn thông tin như vậy, chúng ta mới có được phán đóan đáng tin cậy về việc liệu cổ phiếu của các công ty đó có bị nêu giá quá cao hay quá thấp so với giá trị thực tế hay không; Trái lại, với những người mua cổ phần của các công ty nhỏ, mới thành lập, ít danh tiếng, thường chỉ dựa vào phán đóan có tính ước đóan của ḿnh về sản phẩm và doanh số của công ty tốt xấu, lớn nhỏ ra sao. Họ không có các cột mốc để hướng dẫn cũng không có các hồ sơ để căn cứ vào đấy để đánh gía tương lai. Hành vi đầu tư của họ mang tính chất táo bạo hơn những nhà đầu tư thông thường đối với các công ty lớn.
  • Xă hội cần cả hai lọai nhà đầu tư theo lối thận trọng và theo lối táo bạo như trên, nếu không th́ các công ty mới thành lập cũng như các công ty lớn sẽ không có vốn phát triển họat động.

(Tiến sĩ Đỗ Linh Hiệp - Trưởng Khoa Tiền tệ - Học viện Ngân hàng)