|
Định giá doanh nghiệp theo tỷ lệ P/E -
phần 1 Trong
việc định giá một doanh nghiệp, các báo cáo về tỷ lệ thị
giá / thu nhập một cổ phiếu hay PER hoặc P/E đóng một
vai trò hết sức quan trọng. Price Earning Ratio, viết
tắt là PER hay P/E, được sử dụng trong rất nhiều phương
pháp định giá, đặc biệt là trong những phương pháp đơn
giản nhất, là những phương pháp so sánh ngành, so sánh
tổng thể hoặc lịch sử. Tỷ
lệ P/E chỉ ra rằng thị trường chấp nhận trả giá gấp bao
nhiêu lần thu nhập của một chứng khoán. Có nghĩa là
lượng vốn hoá của một doanh nghiệp gấp bao nhiêu lần so
với thu nhập của nó. Phần thu nhập này có thể được phân
phối hoặc giữ lại, và trong trường hợp được giữ lại, nó
tạo ra một giá trị thặng dư trong tương lai đối với
doanh nghiệp. Đây chính là nguyên tắc cơ bản của TTCK.
Tỷ lệ P/E là hệ số biến đổi thu nhập thành vốn, hoặc là
hệ số tương ứng với mức vốn tiềm năng của một khoản thu
nhập việc đảo ngược tỷ lệ này, nghĩa là tỷ lệ E/P, là tỷ
suất sinh lời của một khoản đầu tư. Ngược lại, tỷ lệ P/E
là hệ số vốn hoá. Theo
quan điểm này, tỷ lệ P/E là một công cụ hết sức quý giá,
bởi vì trong nề kinh tế thường diễn ra hoạt động đầu tư
một lượng vốn để đổi lấy hy vọng vào những khoản thu
nhập lợi nhuận và / hoặc giá trị thặng dư tương lai hoặc
ngược lại. Việc biết được giá trị của lượng vốn bỏ ra để
có được những khoản thu nhập liên tục là điều hết sức
quan trọng. Định
nghĩa các thành phần của P/E:
P/E là một tỷ số gồm hai đại lượng, phụ thuộc vào giá
trị tương ứng và định nghĩa của từng đại
lượng. Đối
với giá thị trường thị giá, khi được đưa ra sử dụng, có
thể có nhiều cách định nghĩa: 1. Là giá thị trường của
phiên cuối cùng hoặc phiên gần nhất; 2. Là giá thị
trường của phiên ngày 31 tháng 12 năm vừa qua; 3. Là giá
thị trường trung bình của từng thời kỳ: tháng, quý hoặc
năm... Liên
quan tới vấn đề thu nhập của cổ phiếu, cần lưu ý là có 3
vấn đề được đặt ra. Thứ nhất, lợi nhuận xuất phát từ
khái niệm nào? lợi nhuận thuần sau thuế hoặc lợi nhuận
thuần từ ngành kinh doanh chính.... Thứ hai, liệu đó có
phải là lợi nhuận thuần được điều chỉnh, có nghĩa là
phải loại bỏ các yếu tố không đồng nhất giữa các chuẩn
mực kế toán khác nhau hay không? Và thứ ba, thời hạn
liên quan là năm nào? Nghĩa là: -
Lợi nhuận thuần của năm tài chính vừa qua và đã được
công bố, -
Lợi nhuận ước lượng của năm tài chính hiện
tại, -
Lợi nhuận kỳ vọng của năm tài chính sắp
tới? Để
minh hoạ khoảng cách có thể có giữa các tỷ số P/E của
các thị trường khác nhau xuất phát từ định nghĩa khác
nhau của các thị trường này, chúng ta có thể sử dụng các
số liệu P/E bình quân của Sở giao dịch chứng khoán New
York và Tokio trong những năm gần
nhất. Tỷ
số P/E bình quân của TTCK New York và
Tokyo
Tỷ
số P/E chưa điều chỉnh của Nhật có vẻ hết sức cao. Điều
này có thể làm nản lòng phần lớn các nhà đầu tư phương
tây. Thực tế, sự so sánh trực tiếp giữa P/E của hai nền
kinh tế này không có ý nghĩa gì. Theo giải thích của các
chuyên gia, lợi nhuận của các doanh nghiệp Nhật không
được tính toán theo cùng một cách với các doanh nghiệp
Mỹ. Nếu người ta cân đối các phương pháp kế toán, và đặc
biệt nếu sử dụng cùng một phương pháp hợp nhất kế toán,
ta có thể nhận thấy rằng lợi nhuận bình quân của các
doanh nghiệp Nhật cao hơn khoảng 60% so với các số liệu
đã công bố như vậy, P/E bình quân của Nhật phải được
điều chỉnh bằng cách nhân chúng với 1/160%, nghĩa là
0,625. Vậy
mà, cần nhận thấy rằng, trong giao tiếp hàng ngày, người
ta không hề đả động đến tỷ số P/E điều chỉnh đối với
doanh nghiệp này hay doanh nghiệp khác ở Nhật. Các vấn
đề liên quan đến tỷ số này đều sử dụng tỷ số P/E không
điều chỉnh. Sự méo mó này có thể là nguồn gốc của những
nhầm lẫn trong các quyết định đầu tư. Nó có thể tránh
được bằng cách sử dụng công nghệ thông tin bao gồm việc
sửa chữa tự động nếu tỷ số P/E xuất hiện trên màn hình
điện tử. Nguyên
tắc đầu tiên được đặt ra cho việc định giá: so sánh các
chỉ số P/E có thể so sánh được bằng cách đảm bảo rằng
việc xác định lợi nhuận là giống nhau trong các trường
hợp, cũng như phải quan tâm đến tính chính xác của các
thời kỳ được so sánh. Khi
so sánh các tỷ số P/E của các doanh nghiệp khác nhau, có
thể có sự chênh lệch xuất phát từ một số nguyên nhân
chính: -
Sự nhầm lẫn trong việc công bố số lượng cổ phiếu đang
lưu hành, -
Việc không hợp nhất các tài khoản của một phần doanh
nghiệp không niêm yết, -
Sự khác biệt của các phương pháp kế toán, đặc biệt là
đối với những vấn đề như: Các khoản dự phòng rủi ro hoặc
các khoản khấu hao. Việc
định nghĩa và tính toán số lượng cổ phiếu có thể là
nguồn gốc của nhiều nhầm lẫn đáng ngạc nhiên khi cần
thiết phải đưa ra các dự đoán. Hiện đang tồn tại trên
thế giới nhiều loại công cụ phái sinh mà chúng có thể là
cổ phiếu hoặc không phải là cổ phiếu theo tính chất của
nó, giống như các cổ phiếu ưu đãi, là dạng cổ phiếu
không có quyền biểu quyết, hoặc các trái phiếu có thể
biến đổi thành cổ phiếu như trái phiếu chuyển
đổi. Những
chứng khoán có thể chuyển đổi thành cổ phiếu hoặc quyền
chuyển đổi thành cổ phiếu trong một thời hạn nào đó, có
thể làm biến đổi hoặc không làm biến đổi tổng lợi nhuận
của doanh nghiệp, có thể không gây tác động mạnh đến
việc giảm giá trị của doanh nghiệp nhưng ngược lại, lại
làm giảm một cách rất nhạy cảm giá trị của từng cổ
phiếu. Cần
phải có một sự chú ý đặc biệt đối với việc tính toán các
lợi nhuận của cổ phiếu trong những trường hợp tăng vốn
đầu tư của doanh nghiệp trong nay mai, doanh nghiệp đang
sở hữu các quyền chọn về cổ phiếu của mình, hoặc có các
loại chứng khoán khác như cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu
chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm quyền mua cổ
phiếu. Người
ta có thể giải thích sự thay đổi của P/E bình quân trên
TTCK?
Việc nghiên cứu sự tương quan chỉ đem lại một kết quả
duy nhất có ý nghĩa: ảnh hưởng của lãi suất trái phiếu.
Tỷ số P/E giảm khi lãi suất trái phiếu
tăng. Tác
động của lãi suất trái phiếu quan trọng hơn rất nhiều so
với 'lợi nhuận bình quân trên TTCK'. Điều này hết sức
quan trọng, vì lãi suất trái phiếu hiện hữu và được công
bố. Lãi suất trái phiếu hàng ngày luôn là đối tượng để
phản ứng, là đề tài tranh luận và mỗi người đều rút ra
những hậu quả từ sự can thiệp của nó vào TTCK và các
chính sách tài chính của doanh nghiệp. 'Lợi nhuận bình
quân trên TTCK' không hiện hữu và không được công bố. Nó
chỉ được sử dụng đến trong trường hợp tính toán sự tương
quan. Và như vậy, nó không có ảnh hưởng đến cách ứng xử
của các thành phần kinh tế. Ngược
lại, lợi nhuận của một doanh nghiệp có tồn tại và nó
cũng tồn tại trong nhận thức của nhà đầu tư. Về mặt lãi
suất, M. de Raismes đã thiết lập mối tương quan sau cho
TTCK
Pháp:
P/E = 20,24 - 93,97 i trong đó, i là lãi suất trái phiếu
không rủi ro. Trong 35 năm hoạt động, chỉ có 7 năm có số
liệu khác với quy luật này và phải được giải thích bằng
những nguyên nhân khác. Đương nhiên là có những hiện tượng có thể làm xáo trộn giá trị của P/E bình quân trên thị trường mà không liên quan tới biến động về lãi suất trái phiếu. Những nguyên nhân đó có thể xuất phát từ ảnh hưởng của một chính sách thuế mới, hoặc đường lối chính trị mới. Định giá doanh nghiệp theo tỷ lệ P/E - phần 2 Những
thông tin kinh tế và tài chính được đăng tải trên các
báo có thể có ích đối với nhà đầu tư trong việc so sánh
giá trị của doanh nghiệp với các doanh nghiệp tương
đồng. Nếu
tỷ số P/E bình quân của toàn thị trường là tương đối
cao, một nhà đầu tư ngắn hạn có thể vẫn kiếm được lợi
nhuận nếu kết quả hoạt động của doanh nghiệp vẫn tiếp
tục tăng và xu hướng của thị trường vẫn thuận lợi. Tuy
nhiên, đối với nhà đầu tư dài hạn thì nên sử dụng các
phương pháp định giá của Gordon - Shapio và của Bates để
kiểm tra khả năng sinh lời kỳ vọng. Lịch sử đã chứng
minh rằng các tỷ số P/E thường dao động trong một khoảng
thời gian nào đó. Nếu
tỷ số P/E của ngành cao hơn tương đối so với TTCK, cần
làm rõ một số chi tiết: Đối
với toàn ngành, lợi nhuận ước đoán của năm tài chính kế
tiếp vẫn tiếp tục tăng với tốc độ cao. Tỷ số P/En+1 sẽ
cho một kết quả thuận lợi hơn nhiều so với P/E hiện tại.
Điều này có thể xảy ra đối với một ngành kinh tế vừa
thoát khỏi khủng hoảng hoặc các yếu tố môi trường đặc
biệt thuận lợi. Khi đó, một tỷ số P/E cao không đồng
nghĩa với một vụ đầu tư mạo hiểm. Đó
là lĩnh vực hiện đang là thị hiếu của công chúng. Điều
chắc chắn rằng khi thị hiếu thay đổi thì kết quả của
việc đầu tư vào lĩnh vực này là hết sức đáng lo
ngại. Nếu
chính tỷ số P/E của doanh nghiệp
cao: Doanh
nghiệp vừa qua khỏi một cuộc khủng hoảng với những kết
quả còn khá thấp nhưng lợi nhuận cam kết của năm tài
chính kế tiếp sẽ lớn hơn nhiều. Vậy, một tỷ số P/E cao
là hợp lý. Sự
tăng trưởng của doanh nghiệp hết sức mạnh mẽ, lợi nhuận
của năm sau sẽ là một bước nhảy vọt so với hiện tại. Khi
đó, P/En+1 sẽ giảm đáng kể so với hiện nay. Như vậy, một
tỷ số P/E cao vẫn tương đối hợp lý. Khi đó, hiện tượng
P/E cao được coi như là một nấc thang cho lợi nhuận
tương lai. Tỷ
số P/E của doanh nghiệp cao do cầu quá lớn so với cung
của cổ phiếu của doanh nghiệp do mới được niêm yết trên
thị trường thứ cấp hoặc do thị hiếu của nhà đầu tư. Khi
đó, cần phải làm rõ xem liệu viễn cảnh về lợi nhuận của
doanh nghiệp có phù hợp với sức cầu đó hay
không. Tóm
lại, một người mua với tỷ số P/E cao cần ngay lập tức
tính toán tỷ số P/En+1 Giá thị trường / lợi nhuận của cổ
phiếu trong năm n + 1. Nếu tỷ số này thấp hơn so với tỷ
số P/E hiện hữu thì việc đầu tư vào cổ phiếu này vẫn cho
kết quả tốt. Một nhà đầu tư muốn nắm giữ cổ phiếu trong nhiều năm, hoặc một nhà thu mua doanh nghiệp theo chiến lược dài hạn không thể lý luận như trường hợp nêu trên. Anh ta bắt buộc phải tính toán khả năng sinh lời của khoản đầu tư của mình trên cơ sở các dòng cổ tức chiết khấu và giá trị bán lại.
|