|
Phân tích kỹ thuật: Các định dạng trên đồ
thị
a. Mô tả hành
vi mua bán chứng khoán
Giả sử có một
nhóm người nắm khá đầy đủ thông tin về một công ty phát
hành. Giá cổ phiếu công ty lúc đó là 40, và công ty đang
hoạt động có lãi và do đó nó sẽ thu hút được sự chú ý
của nhiều nhà đầu tư, nhu cầu đối với cổ phiếu tăng lên,
giá có thể đạt 60 hoặc 65. Nhóm người này tính toán rằng
họ có thể lợi dụng thời cơ để thu chênh lệch giá 20
điểm. Vì vậy họ tiến hành mua tất cả những cổ phiếu chào
bán, do đó họ dần dần đã tích tụ được một vị thế đáng
kể, từ vài nghìn cổ phiếu được đưa ra chào bán trước đó.
Sau đó họ chờ đợi. Các nhà chuyên nghiệp sẽ bắt đầu nghi
vấn và bắt đầu có các tin đồn rằng có cái gì đó về thông
tin nội bộ hoặc các nhà phân tích tìm ra được các khía
cạnh tốt đẹp trong tương lai của công ty, còn các nhà
phân tích thì phát hiện các tín hiệu về hành vi tích tụ
cổ phiếu. Những người mua nhận thấy có ít cổ phiếu bán
ra và số cổ phiếu chào bán quá ít và do đó họ đã tăng
giá chào mua. Một giai đoạn tăng giá bắt
đầu.
Xu hướng tăng
này kéo dài vì nhiều nhà giao dịch bị thu hút sự chú ý
về tăng giá. Quá trình này được hỗ trợ bởi các báo cáo
lạc quan thu nhập tăng, cổ tức tăng.... Giá đạt mức mà
nhóm người này đang dự kiến về lợi nhuận sẽ thu. Giả sử
nhóm này có 20.000 cổ phiếu cần bán hết. Họ không thể
đưa ra bán hết ngay một lúc. Họ phải bán từ từ để tránh
được sự chú ý và sự cảm nhận của công chúng. Ví dụ, nếu
mức giao dịch trong ngày là 2.000 cổ phiếu, thì họ có
thể bán ra 500 cổ phiếu. Họ sẽ tăng khối lượng bán ra
nếu người mua sẵn sàng mua
thêm.
Nhưng theo
quy luật chung thì trước khi nhóm người này có thể phân
phối hết cổ phiếu do mình nắm giữ, thì xuất hiện giai
đoạn giảm cầu. Có thể vì những người mua nhận ra sự gia
tăng cung cổ phiếu. Xuất hiện phản ứng - tức là giai
đoạn giảm giá do những người mua phản ứng lại đối với
tăng cung. Vì vậy, nhóm người này ngừng việc bán ra,
thậm chí có thể mua vào một khối lượng nhỏ cổ phiếu để
hỗ trợ giá nếu giá giảm đột ngột. Giai đoạn giảm giá
hoặc còn gọi là giai đoạn phản ứng chấm dứt, và chuyển
sang giai đoạn tăng giá trở lại. Nhóm người này chờ cho
giá cổ phiếu đạt đỉnh mới. Tại đỉnh này họ lại bán ra,
và nếu họ đủ khả năng khôn khéo thì họ có thể bán hết
trong vòng hai, ba tuần trước khi làn sóng cầu thư hai
chấm dứt. Nhóm thu được lợi nhuận với việc chuyển giao
cho người đầu tư khác 20.000 cổ phiếu. Tiếp đó giá cổ
phiếu giảm ở mức thấp nhất lần đầu. Tiếp đó xuất hiện
một giai đoạn tăng giá ngắn ngủi, đó là một số người mua
xuất hiện và sau đó giá sẽ giảm trong một thời kỳ lâu
dài.
b. Định dạng
đỉnh đầu – vai
Quá trình
giao dịch mô tả trên được biểu thị bằng đồ thị đỉnh đầu
- vai. Đỉnh đầu vai là một tín hiệu về thời điểm đảo
chiều của xu thế. Đỉnh đầu - vai được mô tả trong hình
1, gồm các giai đoạn:
i. Giai đoạn
tăng giá mạnh mẽ,
khối lượng
giao dịch lớn, tiếp đó là giai đoạn phản ứng ngắn ngủi
giảm giá với khối lượng giao dịch thấp hơn. Cả giai đoạn
này được gọi là vai trái. Đỉnh của vai trái là điểm A
Hình 1.
ii. Tiếp đó
một giai đoạn tăng giá đợt thứ hai với khối
lượng giao dịch tăng lên, đạt đỉnh B cao hơn đỉnh A lần
trước của vai trái, tiếp đó là đợt giảm giá đạt ở mức
gần với đáy của vai trái, nhưng phải thấp hơn đỉnh của
vai trái. Cả giai đoạn này được gọi là đầu với đỉnh tại
điểm B Hình 1.
iii Vai phải
với đỉnh tại điểm C xuất hiện, nhưng khối
lượng giao dịch đã giảm đáng kể. Đỉnh C thấp hơn đỉnh B
của đầu.
iv. Giá giảm
ở giai đoạn ba sẽ cắt đường
vai đường thẳng đi qua hai đáy của hai vai, và tiếp tục
giảm ở mức 3% so với đường vai. Đấy là giai đoạn xác
nhận hoặc đảo chiều.
Chú ý rằng
mỗi đỉnh A, B, C, D đều là các đặc trưng quan trọng của
định hình đỉnh đầu - vai. Thiếu bất kỳ một trong các
nhân tố trên đều không thể gọi là đỉnh đầu -
vai.
Vai trò của
khối lượng giao dịch
Diễn biến giá
cả và khối lượng giao dịch phải ăn khớp với nhau. Chú ý
rằng khối lượng giao dịch phải hiểu theo nghĩa đại lượng
tương đối cho từng loại cổ phiếu.
Đối với cổ
phiếu A thì khối lượng giao dịch 500 là lớn, nhưng đối
với cổ phiếu B thì khối lượng giao dịch lớn có thể phải
là 7500. Đặc điểm của đỉnh đầu - vai là khối lượng giao
dịch của giai đoạn sau phải thấp hơn giai đoạn trước.
Giao điểm của
đường vai
Chú ý rằng
nếu đồ thị chưa cắt đường vai ở vai phải thì chưa thể
xác nhận định dạng đỉnh đầu - vai, còn 20% khả năng giá
sẽ ngập ngừng ở giai đoạn tiếp sau và sau đó sẽ tiếp tục
đi vào giai đoạn mới tăng
giá.
Cuối cùng,
ngay cả khi định dạng đỉnh đầu - vai đã được xác nhận
bởi giai đoạn 4 điểm D, tức là đường vai đã cắt, nhưng
vẫn có một khả năng rất hạn hữu là giá sẽ không giảm
tiếp.
c. Các dạng
khác của định dạng đỉnh đầu –
vai
Thông thường
theo luật đối xứng thì đối với đỉnh đầu - vai, đường vai
song song với trục hoành. Tuy vậy, đỉnh đầu - vai cũng
có thể có trường hợp đường vai đi lên hoặc đi xuống.
Trong thực tế để nhận dạng được đỉnh đầu - vai đòi hỏi
người phân tích phải có kinh
nghiệm.
Tại thời điểm
giá giảm và cắt đường vai thì khối lượng giao dịch có
thể tăng, nhưng chút ít. Nếu khối lượng giao dịch vẫn ở
mức thấp trong vài ngày trong khi giá vẫn giảm thì có
thể giá lại tăng trở lại để đạt đúng đường vai. Đây là
nỗ lực cuối cùng trước khi giá lại xuống dốc hầu như
thẳng đứng với khối lượng giao dịch tăng lên đáng kể.
Giai đoạn chuyển tiếp ngắn ngủi nói trên có thể không
xảy ra nếu xu thế của cả thị trường là đảo chiều xuống
dốc. Nếu thị trường nói chung còn mạnh thì có thể xảy ra
giai đoạn chuyển tiếp ngắn ngủi.
d. Định dạng
đáy đầu – vai
Đối xứng với
định dạng đỉnh đầu - vai là định dạng đáy đầu - vai
i. Một giai
đoạn giảm giá, với khối lượng giao dịch tăng lên, sau đó
là giá khôi phục lại trong thời gian ngắn ngủi với khối
lượng giao dịch thấp hơn trước. Cả giai đoạn này được
gọi là vai trái.
ii. Một giai
đoạn giảm giá đạt đáy thấp hơn đáy vai trái, khối lượng
giao dịch tăng lên nhưng vẫn thấp hơn ở vai trái, tiếp
đó giá hồi phục đạt mức cao hơn đáy vai trái, với khối
lượng giao dịch tăng lên đáng kể. Cả giai đoạn này được
gọi là đầu.
iii. Giai
đoạn ba, giảm giá với khối lượng giao dịch thấp hơn,
nhưng giá không thấp hơn đáy của đầu, tiếp đó giá khôi
phục lại, cả giai đoạn này được gọi là vai phải. Giai
đoạn này giá tiếp tục tăng với khối lượng giao dịch tăng
đáng kể, đi qua đường vai và đạt giá trị bằng 3% giá tại
đường vai, và khối lượng giao dịch tăng đột ngột. Đấy là
điểm xác nhận hoặc đảo
chiều.
Sự khác nhau
giữa đỉnh đầu - vai và đáy đầu - vai là ở mức độ khối
lượng giao dịch. Các hoạt động giao dịch ở đáy đầu - vai
có xu hướng tăng lên tính từ giai đoạn đầu. Phải có việc
giao cắt giữa giá và đường vai mới có thể có giai đoạn
xác nhận. Cần chú ý rằng có thể tin vào dấu hiệu đảo
chiều đối với đỉnh đầu - vai, nhưng phải thận trọng với
trường hợp đáy đầu - vai, trừ khi xác nhận khối lượng
lớn giao dịch sau khi cắt đường vai. Vì vậy, phải chờ
đợi mới có thể kết luận dứt khoát về đảo
chiều.
Một điểm nữa
là đáy đầu - vai thường được hình thành trong thời gian
dài và diễn biến giá bằng phẳng hơn.
e. Định dạng
đầu - vai kép
Định dạng đầu
- vai kép là loại định dạng phức tạp hơn. Có thể có định
dạng vai -vai - đầu - đầu - vai - vai, nhưng phải có một
mức độ đối xứng nào đó trong định dạng này.
g. Định dạng
hình tam giác
Định dạng tam
giác đối xứng
Đặc trưng của
tam giác là gồm một loạt các giai đoạn biến động giá,
mỗi đợt sau nhỏ hơn đợt trước, mỗi đỉnh sau thấp hơn
đỉnh trước, mỗi đáy sau cao hơn đáy trước. Nó như là một
đường Dow co lại trên đồ thị, là vùng đi chệch của giá
với đường biên phía dưới đi lên và đường biên phía trên
đi xuống. Đó là tam giác đối xứng. Hoạt động giao dịch
có xu hướng giảm dần, hai đường biên gặp nhau tại một
đỉnh. Sau một thời gian biến động sẽ đến thời điểm giá
sẽ vượt khỏi đường biên một cách đột ngột với khối lượng
giao dịch tăng hoặc vọt lên trên đường biên hoặc tụt
xuống dưới đường biên. Không có một tín hiệu nào để có
thể xác định giá sẽ vọt lên hoặc tụt
xuống.
Khi giá vượt
ra ngoài đường biên thì phải áp dụng quy tắc 3% để xác
nhận xu thế tăng hoặc giảm giá. Nếu giá tăng vượt lên
trên thì phải kèm theo việc gia tăng khối lượng giao
dịch mới có thể xác nhận xu thế mới. Nếu giá tụt xuống
dưới đường biên thì không cần có xác nhận của khối lượng
giao dịch.
j. Phân phối
cổ phiếu theo kế hoạch định
sẵn
Chủ sở hữu có
thể có kế hoạch muốn bán ra hết phân phối cổ phiếu mình
nắm giữ theo một giá dự kiến. Nếu nhu cầu vẫn còn duy
trì thì chủ sở hữu có thể bán với giá 40 để thu tiền
mặt. Nếu cầu vẫn tăng lên thì cung có thể đạt tới giá 40
và giá tiếp tục tăng. Những người đã mua cổ phiếu với
giá 40 cho rằng mình đã đánh giá đúng tình hình và do đó
sẽ không bán ra nếu chưa có cơ hội thu lợi
nhuận.
Đối với tam
giác đi lên thì cầu vẫn tiếp tục tăng. Số cung cổ phiếu
được mua hết dẫn đến việc vượt ra khỏi đường biên trên.
Nếu cầu bắt đầu chững lại trước khi giá vượt ra khỏi
đường biên trên đường cung thì giá có thể vượt ra khỏi
đỉnh tam giác, và khi đó người phân tích phải phân loại
lại định dạng đồ thị.
Trường hợp
này là hạn hữu, vì trong nhiều trường hợp của tam giác
đi lên thì nhóm người dự kiến bán tại đỉnh tiếp xúc với
đường biên trên là đường cung phải tin rằng mức giá này
là đủ cao và có thể đạt được.
Tam giác đi
xuống có đường biên dưới là đường cầu song song với trục
hoành và đường biên trên đi xuống dốc là đường cung.
Việc hình thành tam giác đi xuống cho thấy có một nhóm
người muốn mua vào một khối lượng lớn cổ phiếu của công
ty theo một giá thấp nào đó đường cầu. Các lệnh của họ
đặt tại mức giá này. Nếu các giai đoạn tăng già sau đó
do việc mua của họ tạo ra gây nên số cung mới của cổ
phiếu với mức giá ngày càng thấp hơn do đó tạo nên tam
giác đi xuống, thì các lệnh mua đều được đáp ứng và giá
sẽ giảm. Việc giá giảm đi qua đường biên phía dưới mà
nhiều người khác nắm giữ cổ phiếu coi là mức hỗ trợ
trong một thời gian dài thường làm lung lay lòng tin của
họ, là những người trước đó chưa có dự kiến bán cổ
phiếu. Việc họ chào bán cổ phiếu sẽ làm gia tăng việc
giảm giá.
k. Định dạng
hình bình hành
Định dạng
hình bình hành gồm một loạt các dao động nhỏ chệch hướng
của giá, được gọi là vùng giao dịch. Vùng này bị giới
hạn trong hai đường biên song song. Đỉnh đầu - vai đặc
trưng cho sự đấu tranh giữa người bán mạnh và người mua
yếu. Hình bình hành được đặc trưng bởi mâu thuẫn giữa
hai nhóm người có cùng sức mạnh như nhau - giữa người
chủ sở hữu cổ phiếu muốn bán ra hết cổ phiếu theo một
giá nào đó và những người mua muốn tích tụ cổ phiếu tại
mức giá ở đường biên phía dưới. Họ chơi ván bài với nhau
cho đến khi một bên mất hết sức mạnh hoặc thay đổi chiến
lược và phía kia được dịp tiến qua đường biên. Không ai
có thể kết luận được bên nào sẽ thắng thế cho đến khi
kết cục xảy ra.
l. Gián đoạn
Gián đoạn
được thể hiện bằng vùng giá cả mà tại đó không có việc
chuyển giao cổ phiếu
Gián đoạn
trên đồ thị theo ngày xuất hiện khi giá cổ phiếu thấp
nhất của ngày hôm nay cao hơn giá cao nhất của ngày hôm
trước.
Giả sử cổ
phiếu tăng ở mức giá 20 đến 21, 22, 23, 24 và đạt mức
cao nhất 25 trong ngày. Sáng hôm sau giá mở cửa là 26 và
giá tiếp tục tăng. Vậy ta có gián đoạn với chênh lệch 1
điểm giữa 25 và 26. Giá tiếp tục tăng đến 28, sau đó
chững lại và tiếp sang giai đoạn phản ứng giảm xuống 27,
26, và 25. Như vậy giá đã đi qua vùng gián đoạn 25 - 26
và người ta gọi là đã đóng gián
đoạn.
Nếu không
đóng được gián đoạn trong giai đoạn phản ứng của xu thế
cấp ba, thì có khả năng sẽ đóng tại giai đoạn phản ứng
cấp hai.
Gián đoạn
thường xảy ra trong vùng tam giác hoặc hình bình hành.
Việc xuất hiện gián đoạn cho phép khẳng định rằng quá
trình định dạng đang tiến triển. Ví dụ, nếu giá tăng từ
10 lên 20, sau đó giảm xuống 17, rồi tăng lên 20 và xuất
hiện gián đoạn ở đó thì có thể giả thuyết rằng một định
dạng nào đó đang tiến triển giữa 17 và 20. Việc nhận
biết này sẽ giúp cho người giao dịch thu lợi nhuận trong
phương cách giao dịch ngắn
hạn.
Thường thì
gián đoạn xuất hiện trong quá trình giá cổ phiếu đang ở
giai đoạn điều chỉnh. Vì vậy, việc xuất hiện gián đoạn
tại vùng tam giác hoặc hình bình hành cho phép kết luận
rằng diễn biến giá đang trong quá trình điều chỉnh chứ
không phải là đảo chiều.
Gián đoạn là
vùng giá bị ngắt quãng xuất hiện
trong vùng giao dịch hoặc ở trong vùng của các định
dạng. Nó xuất hiện nhiều tại định dạng tam giác và định
dạng hình bình hành. Gián đoạn này thường bị đóng trong
vài ngày.
Gián đoạn
vượt đường biên là gián đoạn
ở giai đoạn giá vượt ra ngoài đường biên. Ví dụ, nếu giá
vượt khỏi đường biên trên của tam giác đi lên thì sẽ
xuất hiện loại gián đoạn này. Tam giác đi lên tạo nên số
cầu cường độ cao được đáp ứng bằng số cung tại một giá
cố định. Giả sử giá của việc phân phối cổ phiếu là
40.
Những người
nắm giữ cổ phiếu thấy giá tại 40 xuất hiện nhiều lần,
giá dừng tại đó và giá đi xuống trở lại. Vì vậy, họ hoặc
là tham gia vào đám đông bán tại giá 40, hoặc họ suy
tính rằng nếu giá đã vượt qua 40 thì sẽ tiếp tục tăng
sau đó ở mức cao hơn. Vì vậy, hoặc họ chào bán với giá
thấp hơn 40 hoặc cao hơn 40. Kết quả là một khoảng trống
trên đồ thị ngay tiếp phía trên 40. Do đó khi toàn bộ số
cung tại giá 40 đã được đáp ứng mua hết thì người mua
tiếp theo sẽ không tìm thấy lệnh chào bán tại 40 1/8
hoặc 40 1/4. Họ phải tăng giá chào mua đến 1 điểm hoặc
hơn để có thể nhận được cổ
phiếu.
Gián đoạn kế
tục không sinh ra từ các định dạng, mà xuất hiện trong
giai đoạn tăng giá hoặc giảm giá đột biến nhanh chóng.
Khi có sự tiến triển từ từ của giai đoạn tích tụ của thị
trường con bò tót thì xu thế đi lên của giá sẽ lấy được
cường độ, tăng tốc trong vài ngày, hoặc vài tuần, và sau
đó bắt đầu hết đà khi số cung tăng lên do động lực thu
lợi nhuận tạo ra. khối lượng giao dịch đạt đỉnh tại điểm
vượt biên, giảm ở điểm giữa của đợt tăng giá, và sau đó
sẽ tăng tốc với khối lượng giao dịch đặc biệt cao khi
kết thúc đợt tăng giá.
Tại đợt tăng
giá này có một sự giảm khối lượng giao dịch nhanh chóng,
thì chắc chắn sẽ xuất hiện gián đoạn tại thời điểm khi
yết giá thay đổi nhanh chóng kể cả khối lượng giao dịch.
Thời điểm đó xuất hiện ở giữa khoảng xuất hiện việc vượt
ra ngoài biên và ngày đảo chiều hoặc củng cố ở giai đoạn
sau. Vì vậy, giá cổ phiếu sẽ đi một quãng xa ngoài điểm
gián đoạn bằng khoảng giữa điểm gián đoạn và điểm vượt
ra ngoài đường biên.
Gián đoạn
kiệt quệ liên hệ với một đợt tăng hoặc giảm giá nhanh
chóng dẫn đến sự
kết thúc của một đợt tăng hoặc giảm giá. Gián đoạn kế
tục xuất hiện ở giữa giai đoạn tăng giá với khối lượng
giao dịch lớn, sau đó giảm tốc độ tăng và dừng lại do
kháng cự thắng thế. Nhưng có khi xu hướng gia tăng giá
không dẫn đến việc tăng dần kháng cự và sự chững lại, mà
vẫn tiếp tục gia tăng cho đến khi giá vấp phải bức tường
đá của số cung hoặc số cầu, nếu là xu thế giảm và dẫn
đến sự kết thúc đột ngột trong một ngày giao dịch khối
lượng lớn. Trong trường hợp đó thì xuất hiện gián đoạn
lớn tại điểm kết thúc. Đó là gián đoạn kiệt
quệ.
m. Định dạng
củng cố
Khi giá cổ
phiếu đi theo xu thế cấp một tăng hoặc giảm với tốc độ
quá nhanh, giá sẽ đạt tới một điểm mà tại đó lực lượng
cung cầu sinh ra nó sẽ bị cạn kiệt. Khi đó hoặc xảy ra
việc đảo chiều của xu thế cấp một hoặc cấp hai, hoặc
phải củng cố lại vị trí của nó, dưới hình thức đường rẽ
ngang bao gồm các dao động nhỏ, cho đến khi đủ sức tiếp
tục đi theo xu thế cũ của
nó.
Định dạng tam
giác hoặc hình bình hành cũng có thể đóng vai trò củng
cố hoặc đảo chiều. Thường thì trong bốn trường hợp có ba
trường hợp của định dạng tam giác là củng cố, cũng như
vậy đối với hình bình hành. Theo lý thuyết Dow thì đồ
thị của chỉ số trung bình cũng có thể có định dạng củng
cố hoặc đảo chiều.
n. Định dạng
hình cờ vuông và hình cờ tam
giác
Hình cờ vuông
có dạng hình bình hành, hoặc dốc xuống nếu ở trên đường
thị trường con bò tót hoặc dốc lên nếu ở trên thị trường
con gấu. Đó là khoảng dao động nhỏ lên xuống, theo hình
bình hành, có chiều đi ngược lại với xu thế chung trước
đó.
Xét hình cờ
vuông đối với xu thế tăng giá. Sau khi giá gia tăng đáng
kể, hầu như dốc thẳng đứng, sẽ xuất hiện hình cờ vuông,
ở giai đoạn tăng giá này khối lượng giao dịch tăng lên
và đạt đỉnh cao. Khối lượng này là tín hiệu cảnh báo
rằng những người sở hữu cổ phiếu đang thu lợi nhuận.
Nhưng áp lực thu lợi nhuận đã kìm hãm giá. Giá bắt đầu
chững lại, đi xuống dốc một hai điểm với khối lượng giao
dịch giảm đi. Một đợt tăng giá tiếp theo nhưng không đủ
sức đạt mức giá và khối lượng trước đây. Tiếp đó là đợt
phản ứng với giá thấp hơn đáy lần trước và đồng thời
khối lượng giao dịch giảm. Tiếp đó là các đợt dao động
nhỏ tương tự, với mỗi đỉnh và đáy lần sau thấp hơn lần
trước và khối lượng giao dịch tiếp tục giảm. Trên đồ thị
là một đường tăng giá gần thẳng đứng, tiếp đó là giai
đoạn đường rẽ theo chiều giảm giá có hai đường biên của
các đỉnh và đáy. Nó có biểu tượng hình cờ
vuông.
Thường thì
một đợt tăng và giảm trong hình cờ kéo dài ba bốn ngày.
Trường hợp khác thì giá đi lên đi xuống giữa hai đường
biên trong một hai ngày. Nếu độ rộng của hình cờ vuông
tính từ đỉnh đến đáy càng lớn thì thời gian càng kéo dài
để kết thúc một dao động.
Quá trình tạo
ra các dao động nhỏ này có khi kéo dài từ 5 ngày đến một
tuần nếu hình cờ quá hẹp. Khối lượng giao dịch phải giảm
đi đến tối thiểu. Sau đó bất ngờ giá sẽ nhảy vọt với
hoạt động gia tăng và chuyển sang một giai đoạn mới tăng
giá hầu như là giống với đợt tăng giá trước hình
cờ.
Sự khác nhau
giữa hình cờ vuông và hình cờ tam giác là ở chỗ hình cờ
tam giác có hai đường biên cắt nhau. Hình cờ tam giác là
một tam giác đi xuống khi nằm trên xu thế cấp một tăng
giá, và đi lên khi nằm trên xu thế cấp một giảm giá. Nó
xuất hiện sau một giai đoạn giá gia tăng giảm và khối
lượng giao dịch giảm đi một cách nhanh
chóng.
Hình cờ vuông
và hình cờ tam giác đặc trưng cho giai đoạn thị trường
chuyển động nhanh chóng. Chúng xuất hiện ở giai đoạn sôi
động của thị trường con bò tót, tiếp sau giai đoạn tích
tụ và khi giai đoạn phát triển có trật tự đã đi qua. Vì
vậy việc xuất hiện hình cờ vuông và hình cờ tam giác là
sự cảnh báo rằng giai đoạn tăng giá đã đến tuần cuối
cùng. Giai đoạn chuyển biến nhanh chóng của thị trường
con gấu là giai đoạn thứ hai thường được đặc trưng bởi
sự xuống dốc trong hoảng loạn. Vì vậy, hình cờ vuông và
hình cờ tam giác xuất hiện rất ngắn ngủi – hoàn thành
trong ba bốn ngày, ở giai đoạn các tháng cuối cùng của
thị trường con gấu việc hình thành hình cờ vuông và hình
cờ tam giác kéo dài lâu hơn bốn tuần trở lên, và được
đặc trưng bởi hoạt động tăng lên ở đợt tăng giá và giảm
đi ở đợt phản ứng. |