Site hosted by Angelfire.com: Build your free website today!

Một số nét chính về Công ty cổ phần Nhựa
Đà Nẵng

Ngày 9/11/2001, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đă cấp giấy phép phát hành chứng khoán ra công chúng cho Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng. Đây là công ty cổ phần thứ 8 được phép niêm yết và giao dịch cổ phiếu trên TTGDCK TP.HCM.

GIớI THIệU CHUNG Về CÔNG TY

Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng (DANAPLAST CO.) tiền thân là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc UBND TP. Đà Nẵng được thành lập từ 22/1/1976 và được cổ phần hóa vào ngày 4/8/2000 theo Quyết định 90/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Vốn điều lệ của Công ty là 15,8 tỷ đồng với cơ cấu như sau: Nhà nước chiếm 31,5%, cổ đông trong Công ty chiếm 27,33% và cổ đông bên ngoài Công ty chiếm 41,17%. Tổng số cổ đông hiện tại của Công ty là 426 cổ đông; trong đó có 274 cổ đông trong Công ty, 130 cổ đông bên ngoài Công ty và 2 cổ đông đại diện cho Nhà nước.

Hoạt động kinh doanh chủ yếu của Công ty là sản xuất sản phẩm tiêu dùng từ chất dẻo, bao b́ các loại, ống nước PVC compound cứng; bán buôn bán lẻ các sản phẩm, vật tư nguyên liệu và các chất phụ gia ngành nhựa; xuất nhập khẩu trực tiếp, kinh doanh các ngành nghề khác phù hợp với pháp luật quy định. Trong quá tŕnh hoạt động vừa sản xuất vừa tích lũy cho tái đầu tư, đến nay Công ty đă hoàn thiện toàn bộ cơ sở hạ tầng nhà xưởng, đường nội bộ trong diện tích 1,57 ha, Công ty cũng đă sản xuất được 5 nhóm sản phẩm khác nhau để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường nhóm bao b́ túi xốp; nhóm các loại ống: nhóm sản phẩm két bia, nước ngọt; nhóm sản phẩm tiêu dùng như dép, ủng, cánh quạt...; và nhóm các sản phẩm chuyên dùng theo yêu cầu của khách hàng; trong đó một phần sản phẩm cũng đă được xuất khẩu sang các nước châu Âu và châu á.

Trong những năm gần đây, Công ty được đánh giá là một trong những đơn vị hoạt động hiệu quả nhất tại Đà Nẵng với những thành tích đạt được như sau: Huân chương lao động hạng I,II, III do Nhà nước trao tặng; Hàng Việt Nam chất lượng cao trong 3 năm liền ( 1998-2000); Bằng khen đơn vị dẫn đầu ngành công nghiệp TP. Đà nẵng trong nhiều năm liền.

T́NH H́NH THị TRƯờNG CủA CÔNG TY

Tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong ngành kỹ thuật cao đă tạo nên ảnh hưởng khá lớn đến ngành sản xuất sản phẩm nhựa cả về sản lượng sản xuất lẫn cơ cấu sản phẩm. Nhu sầu về các sản phẩm nhựa công nghệ kỹ thuật cao và vật liệu xây dựng ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng nhựa. Nếu trong giai đoạn 1995, tỷ trọng hàng tiêu dùng và bao b́ sản phẩm chiếm 75% với tổng sản lượng trên 200.000 tấn sản phẩm th́ đến năm 2000 các sản phẩm nhựa công nghệ kỹ thuật cao và vật liệu xây dựng chiếm tỷ trọng trên 45% với tổng sản lượng đạt gần 220.000 tấn sản phẩm.

Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong nước cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của sự phát triển chung, yêu cầu về sản lượng là chủng loại ngày càng tăng lên. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội nhựa, nhu cầu tiêu dùng nhựa tính trên đầu người của Việt Nam năm 1999 vào khoảng 9,4 kg/người/năm là khá thấp so với mức trung b́nh của thế giới là 17 kg/người/năm và kế hoạch đến năm 2010, mức tiêu thụ dự kiến nâng lên khoảng 19 -20 kg/người/năm. So với các ngành công nghiệp khác, ngành nhựa là một trong những ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất. Trong những năm gần đây, ngành nhựa Việt Nam có những bước phát triển nhảy vọt đáng kể, tốc độ tăng trưởng b́nh quân 25%, trong đó có những mặt hàng phát triển nhảy vọt với tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%. Sự tăng trưởng đó xuất phát từ thị trường rộng và đặt biệt là v́ ngành nhựa Việt Nam chỉ mới ở bước đầu của sự phát triển so với thế giới.

Nắm bắt được sự thay đổi nhu cầu về sản phẩm nhựa, Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng đă định hướng phát triển sản xuất theo nhu cầu cuả thị trường hiện đại. Hiện nay sản phẩm của Công ty chủ yếu là các sản phẩm nhựa công nghiệp, chiếm 93% tổng sản phẩm sản xuất trong khi sản phẩm nhựa gia dụng chỉ chiếm 7% tổng sản lượng.

Nhằm khai thác triệt để những lợi thế về tài sản và thương hiệu - được b́nh chọn "Hàng Việt Nam chất lượng cao 3 năm liền" - Công ty đă chọn phương án tập trung đầu tư đa dạng hóa các loại sản phẩm thông qua việc thuê mua hoặc đầu tư khuôn mẫu nhằm tạo ra các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh về mặt điạ lư, có nhu cầu lớn trong các ngành nông nghiệp và thủy sản tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu các sản phẩm nhựa và bao b́; đồng thời, Công ty cũng đă mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm với các đại lư bán hàng trên khắp cả nước trong đó tập trung phần lớn ở thị trường Miền Trung, nơi mà các sản phẩm của Công ty chiếm thị phần cao đối với hầu hết các mặt hàng. Các sản phẩm của Công ty chủ yếu được phân phối ở miền Trung với tỷ lệ 53,8%, miền Bắc 45% (bao gồm cả Bắc Trung Bộ) và thị trường miền Nam là 1,2%. Tuy nhiên, riêng về sản phẩm ống nhựa, Công ty chiếm gần 80% thị phần cung cấp cho các công ty cấp nước tại các tỉnh miền Trung và các chương tŕnh quốc gia về nước sạch nông thôn.

Hiện nay, Công ty có nhiều thuận lợi do được hưởng một số chính sách ưu đăi đầu tư như: được miễn tiền thuê đất trong thời hạn 13 năm kể từ năm 2001; được hưởng thuế suất thu nhập doanh nghiệp 20%; được miễn 3 năm và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong thời hạn 7 năm tiếp theo kể từ khi có thu nhập chịu thuế và không phải nộp thuế thu nhập bổ sung... Tuy nhiên, Công ty cũng gặp không ít những khó khăn: hiện nay đă có hơn 1.000 doang nghiệp, cơ sở tham gia vào quá tŕnh sản xuất các sản phẩm có liên quan đến nhựa nhưng sản phẩm cung cấp cho thị trường vẫn thừa vẫn thiếu; các sản phẩm nhựa vẫn chỉ dừng lại lở mức độ sản phẩm đơn giản, chưa có nhiều sản phẩm kỹ thuật cao do hạn chế trong ngành cơ khí khuôn mẫu Việt Nam; nguyên liệu chính để sản xuất sản phẩm nhựa hiện nay vẫn chưa được sản xuất ở Việt Nam mà chủ yếu vẫn là nhập khẩu.

Việc đầu tư vào cổ phiếu của một Công ty nào đó thường liên quan đến một số nhân tố rủi ro. Các nhà đầu tư nêm xem xét cẩn thận những rủi ro được tŕnh bày dưới đây, cùng với những thông tin nêu trong Bản cáo bạch trước khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu Công ty.

RủI RO KINH Tế

Rủi ro nguyên liệu đầu vào

Đối với hoạt động ngành nhựa của Việt Nam hiện nay, nguồn nguyên liệu đầu vào của hầu hết các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước đều phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài, trong khi giá nguyên liệu ngành nhựa luôn bị biến động với biên độ giao động dó thể lên đến +/-50%, do đó đây là một trong những nhân tố rủi ro ảnh hưởng nhiều đến giá thành sản xuất và khả năng sinh lời.

Rủi ro về tỷ giá

Do phần lớn nguyên liệu nhập khẩu phải thanh toán bằng ngoại tệ, trong khi nguồn thu của Công ty từ sản phẩm tiêu thụ chủ yếu là đồng nội tệ nên rủi ro tiềm ẩn về tỷ giá hoàn toàn có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến quá tŕnh hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả hoạt động.

Rủi ro cạnh tranh thị trường

Hiện nay tại Việt Nam có hơn 1.000 doanh nghiệp lớn nhỏ đang hoạt đồng trong ngành nhựa đă tạo nên một môi trường cạnh tranh khá gay gắt. Bên cạnh đó,sức ép về sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật làm cho các sản phẩm ngành nhựa phải thay đổi liên tục về chất lượng và mẫu mă. Do đó, việc giữ được vị thế cạnh tranh trên thương trường của Công ty sẽ rất khó khăn và đây cũng chính là nguy cơ rủi ro cho bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong ngành. Mặt khác, tiến tŕnh hội nhập AFTA thông qua việc thực hiện hiệp định thương mại, xoá bỏ việc bảo hộ của Nhà nước, băi bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng sẽ làm tăng áp lực cạnh tranh tại thị trường Việt Nam cũng như thị trường xuất khẩu.

Rủi ro về kỹ thuật

Tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật trong ngành nhựa đă tạo cho Công ty cơ hội để phát triển và đa dạng hóa sản phẩm. Tuy nhiên, chính điều đó lại đ̣i hỏi sự phát triển một cách đồng bộ về dây chuyền công nghệ kỹ thuật sản xuất và sự sáng tạo cho các sản phẩm mới để đáp ứng được các yêu cầu của thị trường hiện tại. Đây là một thách thức lớn đối với Công ty v́ muốn bắt kịp với tốc độ phát triển cần phải có chi phí rất lớn cho cả trang thiết bị, kỹ thuật, nhân sự lẫn chi phí đào tạo.

Rủi ro về pháp luật

Việt Nam vẫn đang từng bước xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp lư cho hoạt động của một nền kinh tế theo định hướng xă hội chủ nghĩa, v́ vậy những rủi ro pháp lư có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của Công ty như sau:

- Luật doanh nghiệp mới áp dụng vào đầu năm 2000 nên đang gây không ít những khó khăn cho việc vận hành doanh nghiệp theo đúng tinh thần của luật.

- Các chuẩn mực về kế toán hiện vẫn đang trong giai đoạn dự thảo và hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay vẫn đang hoàn thiện dần nên Công ty phải thường xuyên theo dơi, cập nhật và áp dụng các quy định, hướng dẫn về kế toán mới ban hành để đảm bảo công tác hạch toán hàng ngày phù hợp với các quy định kế toán hiện hành của Bộ Tài chính.

- Hệ thống pháp lư về chứng khoán và thị trường chứng khoán của Việt Nam chỉ dưới dạng Nghị định cho nên vẫn cần những điều chỉnh thích hợp. Đây cũng là một trong những nhân tố có thể ảnh hưởng rất nhiều đến giá chứng khoán phát hành.

Rủi ro khác

Bên cạnh những rủi ro chính nêu trên, quá tŕnh hoạt động kinh doanh của Công ty c̣n có thể bị tác động bởi những yếu tố rủi ro như sau:

- Rủi ro về thiên tai hỏa hoạn: đây là rủi ro bất khả kháng rất dễ xảy ra do sản phẩm của Công ty từ nguyên liệu cho đến thành phẩm rất dễ cháy.

- Rủi ro về hạ tầng cơ sở: cơ sở hạ tầng khu vực miền Trung hiện nay vẫn c̣n yếu kém có thể làm cản trở và gây khó khăn cho việc luân chuyển, giao nhận hàng hóa của Công ty.

Kết quả hoạt động kinh doanh năm 1999, năm 2000 và 6 tháng đầu năm 2001 của Công ty Cổ phần Nhựa Đà Nẵng

Trong năm 1999 và 2000, do t́nh h́nh nguyên vật liệu nhập khẩu dùng cho sản xuất (chủ yếu là hạt nhựa) biến động tăng liên tục đă đẩy giá thành tăng đột biến. Ngoài ra, do chính sách khấu hao nhanh cũng như việc tăng cường chi phí nâng cấp, sữa chữa lớn và đầu tư mới trước khi cổ phần hóa cũng đă làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, kể từ khi hoạt động theo h́nh thức công ty cổ phần (8/2000) t́nh h́nh kinh doanh của công ty đă được cải thiện đáng kể và tăng trưởng ngày càng cao, chỉ riêng quí 4/2000 lợi nhuận đạt được đă cao hơn lợi nhuận trong 9 tháng đầu năm 2000. Sang năm 2001, công ty đă có chính sách dự trữ nguyên vật liệu hợp lư và giá nguyên vật liệu trên thị trường hạt nhựa đă tương đối ổn định th́ lợi nhuận của công ty tăng khá cao. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2001, lợi nhuận của công ty đă tăng gần 2,4 lần so với cả năm 2000.

Chỉ tiêu

Năm 1999

Năm 2000

6 tháng đầu năm 2001

Tổng doanh thu

53.507.619.151

56.048.086.091

26.918.295.827

Trong đó: Doanh thu hàng xuất khẩu

623.303.057

890.020.976

634.014.850

Các khoản giảm trừ

446.941.542

257.960.032

55.645.697

Doanh thu thuần

53.060.677.609

55.790.126.059

26.862.650.130

Giá vốn hàng bán

48.114.908.409

51.308.150.466

24.072.758.660

Lợi nhuận gộp

4.945.769.200

4.481.975.593

2.789.891.470

Chi phí bán hàng

1.031.484.955

1.315.199.770

688.602.770

Chi phí quản lư doanh nghiệp

3.638.569.699

1.996.851.702

718.066.471

Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh

275.714.546

1.169.924.121

1.383.222.229

Lợi nhuận từ hoạt động tài chính

(275.514.079)

(630.745.019)

(355.343.022)

Lợi nhuận bất thường

1.509.623.428

25.320.663

96.855.886

Tổng lợi nhuận trước thuế

1.509.823.895

564.499.765

1.124.735.093

Lợi nhuận sau thuế

1.026.680.249

469.817.308

1.124.735.093

(Theo TTGDCK TP. HCM