Site hosted by Angelfire.com: Build your free website today!

THỰC TRẠNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM

 

Việc đă cũ, nhiều người nói, cả xă hội quan tâm, nhưng làm thế nào? Đây là bài viết của một du học sinh mới tốt nghiệp và trở về nước, đó là cái nh́n khách quan của một người quan sát từ phía bên ngoài về đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam và rất đáng suy ngẫm. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc...

1.
Không được làm việc, nói ǵ đến làm được việc!

Trong khi ngành CNTT (trong bài này xin chỉ đề cập đến phần mềm và mạng) đang thiếu hàng chục ngàn kỹ sư, lập tŕnh viên th́ sinh viên CNTT ra trường vẫn thất nghiệp nhan nhản. Thời gian gần đây, CNTT đă trở thành ngành học danh giá hàng đầu ở nhiều trường đại học. Nhà nhà học CNTT, người người học CNTT. Khi được hỏi, 40% sinh viên ở một trường đại học danh tiếng cho biết họ chọn CNTT đơn giản v́ đây là ngành “nóng”, ra trường dễ xin việc. Học CNTT mà không say mê th́ rất khó. Nhiều người t́m mọi cách cho con đi học mong cho cậu ấm có một tấm bằng cử nhân CNTT ḥng mưu đại sự sau này, dù cậu chưa bao giờ sờ vào máy vi tính!

Và kết quả là có sinh viên, điều đáng ngại là có nhiều sinh viên, học đến năm cuối cùng sắp tốt nghiệp chuyên ngành lập tŕnh mà làm một cái website đơn giản nhất cũng không biết, không thể viết nổi dù là một đoạn chương tŕnh phần mềm đơn giản nhất. Vậy họ ra trường làm ǵ?

Theo một thống kê đầu năm 2002, ước tính có tới… 12,32% sinh viên CNTT tốt nghiệp ra trường đang thất nghiệp hoặc làm nghề khác!

Hầu như ai cũng biết hiện nay đa số các công ty chỉ tuyển sinh viên có tố chất vào rồi để đào tạo lại. Dẫu biết đào tạo cơ bản trong trường là tốt, nhưng xin hăy t́m hiểu xem xă hội cần ǵ. Học để làm việc chứ đâu phải học để làm tiến sĩ? Trường đại học có nghe, có chịu nghe các doanh nghiệp nói riêng và xă hội nói chung đang chờ đợi ǵ ở các sinh viên đă 4,5 năm h́ hục trên giảng đường?

Có tới 6 trong số 10 người quản lư được hỏi cho biết họ sẵn sàng nhận một lập tŕnh viên học ở các trung tâm này ra thay v́ tuyển một sinh viên tốt nghiệp đại học mà chưa học ở đâu khác. 3 người c̣n lại trả lời “tuỳ vào cá nhân người đó có tự học hay không”, 1 người cuối cùng th́ trả lời chắc nịch “nếu người đó chưa bao giờ làm một dự án nào, dù điểm cao đến đâu tôi cũng không tuyển”.

Điều này gợi lên những dấu hỏi lớn: h́nh như bằng cấp CNTT nước ta đang mất giá thê thảm? (Hay các doanh nghiệp đang mất ḷng tin ở cách đào tạo hiện nay của hệ thống giáo dục CNTT?). Một thực trạng đáng lo!

2. Nguyên nhân v́ đâu?
Thử xem xét một vài nguyên nhân mà chủ quan tôi cho là nổi cộm, trong khuôn khổ một bài viết, xin phép không lạm bàn ở đây.

1/ Có phải tại các thầy giáo trong các trường đă lớn tuổi và có vị trí cao nên ngại thay đổi? Không chịu cập nhật cái mới v́ sợ lớp trẻ hơn ḿnh?

2/ Tại thiếu tài liệu? Thiếu trang thiết bị?

3/ Tại giáo tŕnh chưa sát thực tế? C̣n nhiều bất cập?

4/ Tại sinh viên chưa năng động? Chưa có hướng đi?

Dù là do nguyên nhân nào, chúng ta cũng cần nghiêm khắc nh́n nhận vấn đề và sửa đổi cho kịp. Muộn, nhưng vẫn chưa quá muộn.

3. Kiến nghị một số giải pháp

Giảng dạy cơ bản nhưng không quên ứng dụng thực tế

Nghĩa là phải sửa giáo tŕnh. Xin đừng học quá nhiều thuật toán (nhiều cái đă lỗi thời và nhiều cái không bao giờ dùng đến) như thế, hăy học cách phân tích và thiết kế hệ thống, tạo cơ sở dữ liệu (database), mô h́nh hoá, viết mă lệnh, tạo giao diện, kiểm thử (testing), sửa lỗi, viết tài liệu (documents), quản lư dự án và chăm sóc khách hàng. Đưa thêm vào chương tŕnh giảng dạy những công cụ ứng dụng phổ biến, các ngôn ngữ lập tŕnh cấp cao, các công cụ thiết kế web, hỗ trợ viết mă lệnh…

Hăy chỉ để một tỷ lệ nhỏ sinh viên có khuynh hướng nghiên cứu học chuyên sâu (để làm “thầy”, phát triển khoa học cơ bản). Số c̣n lại hăy tạo cơ hội cho họ phát triển, sử dụng, ứng dụng những phần mềm đă có. Muốn có một nền CNTT phát triển, tôi cho rằng chúng ta cần nhiều “thợ” hơn. Việt
Nam muốn đi trước đón đầu hay đi sau bắt kịp đều phải nằm ở ứng dụng, v́ ứng dụng th́ dễ hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn nghiên cứu rất nhiều lần.

Bỏ tật chuộng h́nh thức, bệnh sĩ

Qua nhiều năm du học, tôi nhận thấy một sự khác biệt rất lớn trong quan niệm về người giỏi của ta và một số nước bạn.
Ở các quốc gia phát triển, người giỏi thường được hiểu là người làm ra sản phẩm, ứng dụng tốt và bán được nó, hoặc thực hiện tốt một trong các khâu này, miễn sao có thể giúp ích thực tế cho xă hội.

Trong khi đó, chúng ta lại quá chuộng h́nh thức, bệnh thành tích quá lớn khiến nhiều người có khả năng chuyên môn khá th́ lao đầu vào học, học và học (mà học nhiều quá th́ không c̣n thời gian làm nữa, kết quả là lại ra “thầy”). Họ được tung hô, thổi bùng mỗi khi có một giải thưởng nào đó (mà thực ra người trong cuộc th́ thấy hết sức b́nh thường). Việt
Nam năm nào cũng đứng ở TOP các nước dẫn đầu trong các kỳ thi Olympic tin học, nhưng thử ngẫm lại xem có mấy phần mềm “Made in Vietnam”? Tính sơ sơ trong 5 năm gần đây, chúng ta phải có hàng trăm sinh viên đoạt giải cao về CNTT, vậy mà dù theo dơi rất sát các phần mềm Việt Nam trên mạng, tôi vẫn chưa một lần được thưởng thức tài năng của các bạn ấy. Cuối cùng các tài năng tin học thường chỉ dừng lại ở việc hiểu những thuật toán không ai hiểu nổi. Đang tồn tại một thực tế buồn cười là “càng ít người hiểu nghĩa là anh càng giỏi”. Lo quá, trong khi các nước phương Tây tiêu chí đầu tiên của mọi sản phẩm, mọi công việc đều phải là “Dễ hiểu, dễ sử dụng”, người giỏi phải là người khi nói ai cũng hiểu, ai cũng làm theo được.

Chúng ta thường đổ lỗi cho đủ thứ lư do nào là nạn copy lậu phần mềm, rồi là chính phủ chưa quan tâm đúng mức, nào là phải chờ để làm một chương tŕnh “thế giới chưa từng có”. Nhưng, với kinh nghiệm của một người đă nhiều năm viết phần mềm, tôi cho rằng không quá khó và không quá tốn kém để có được những chương tŕnh Made-in-Vietnam hoặc “đóng gói tại Việt Nam”, tạo ra những phần mềm nói tiếng Việt, phục vụ cho người Việt.

Học thêm các chuyên ngành khác

Có dũng cảm nh́n xuống mới thấy nên quan niệm rằng CNTT chỉ là một công cụ phục vụ các ngành khác và chỉ có ư nghĩa khi nó phục vụ cho một ngành khác.
CNTT bản thân nó không phải là một môn khoa học nghiên cứu, nó thiên về ứng dụng nhiều hơn.

Ở quốc gia tôi đă từng học, để tốt nghiệp với tấm bằng CNTT, sinh viên chỉ cần học khoảng 30% các môn thuộc lĩnh vực này. Nghĩa là 70% các môn c̣n lại có thể chọn bất cứ ngành nghề nào, từ khoa học tự nhiên, hội hoạ, phim ảnh cho đến tâm lư học. Trong khi đó tại Việt
Nam, 10/10 sinh viên được hỏi đều cho biết họ không có sự lựa chọn về môn học. Lựa chọn gần như duy nhất họ được làm là chọn ngành học ngay từ ngày mới vào trường, và học xong vài môn đại cương, khi mà thậm chí họ chưa hiểu CNTT dùng để làm ǵ.

Kết quả là sinh viên ra trường không hiểu ǵ về các lĩnh vực khác, khi làm dự án bao giờ cũng mất rất nhiều thời gian để t́m hiểu quy tŕnh của đối tác. Và trong rất nhiều trường hợp, doanh nghiệp tự đưa người của ḿnh đi đào tạo CNTT hoặc mua sản phẩm phần mềm nước ngoài chứ nhất định không chịu mất hàng tháng để ngồi giải thích cho các cử nhân CNTT.

Tập làm sản phẩm đi, đừng viết thuật toán nữa

Nhiều sinh viên học không tồi, điểm rất cao và đă học qua nhiều ngôn ngữ lập tŕnh trong những trường đại học danh tiếng, nghĩa là một sản phẩm hoàn hảo của hệ thống giáo dục CNTT hiện nay, ra trường không dám nhận dự án nào, dù nhỏ, v́ chỉ biết viết thuật toán và một số mă lệnh cơ bản.

Trong số họ, tôi có quen 2 người bạn đă từng đoạt giải Vàng và Bạc trong kỳ thi Olympic tin học quốc tế. Cùng lúc, tôi quen 2 người bạn khác không được đào tạo qua trường lớp nào về CNTT, cả 4 đều yêu thích và hiện đều làm trong lĩnh vực này.

2 người bạn “Vàng Bạc” thuật toán cực giỏi, nh́n họ viết các phương tŕnh, các công thức th́ cứ gọi là hoa mắt. Sản phẩm của họ được dạy, được làm từ trước khi đoạt giải là một chương tŕnh cờ caro (mà có lẽ 10,15 năm trước thầy giáo của họ cũng đă làm y như thế) và đến bây giờ các phần mềm của họ vẫn chỉ là & cờ caro rồi sang cờ vua và sản phẩm mới đây nhất của một người là .. cờ tướng. Cả hai hiện chưa có việc làm ổn định!

Ngược lại, hai người bạn đồng niên kia dù biết đến CNTT rất muộn và theo học các ngành khác, th́ một người đă có những phần mềm hàng trăm ngàn người sử dụng, trong đó có nhiều người nước ngoài, tương lai đă rất mở. Người c̣n lại hiện làm giám đốc chi nhánh một công ty CNTT có tiếng tăm.

Các bạn sinh viên, xin hăy định h́nh lại: đừng làm một người viết mă lệnh (coder) mà hăy là những nhà phát triển (developer).

Luyện tư tưởng làm việc nhóm

Trong thời đại công nghiệp, làm việc một ḿnh là tự sát. Thiết nghĩ các trường đại học nên cho sinh viên làm việc theo nhóm thường xuyên hơn, nên có thuyết tŕnh miệng và các buổi sinh hoạt tập thể, hội thảo, giao lưu theo các nhóm 3-10 người. Có như vậy khi ra trường sinh viên mới không bỡ ngỡ, không “choáng” trước những dự án hàng chục, thậm chí hàng trăm người làm.

Hăy chịu khó lao thẳng vào xă hội từ khi c̣n đang học, lấy kinh nghiệm

Sinh viên của chúng ta h́nh như nhàn hạ quá. Tôi cũng đă từng được học đại học ỏ Việt
Nam và thấy rằng phần đông trong số các sinh viên không học và cũng không làm ǵ cả. Những năm sinh viên là những năm tháng đẹp nhất, mạnh mẽ sáng tạo nhất, mà không làm được việc ǵ đáng kể. Ra trường nhiều người phải làm lại từ đầu và có đến 8/10 sinh viên tốt nghiệp được phỏng vấn cho rằng 4 năm đại học của họ là “lăng phí”.

Chưa có nhiều sinh viên mạnh dạn đi thực tập nếu không “bị” nhà trường yêu cầu, thường là vào năm cuối. Trong khi đó, ở nhiều nước khác trên thế giới, sinh viên năm nhất năm hai đi làm ầm ầm, ra trường đă có vài năm kinh nghiệm. Họ sẵn sàng làm việc không lương hàng năm liền, chỉ để khi ra trường có được một tờ giấy xin việc với lời khen tốt. Và ở đất nước tôi vừa học, khi đưa bạn tôi đi phỏng vấn xin việc làm ở hơn 20 công ty CNTT, câu hỏi đầu tiên luôn luôn là: “Bạn đă có kinh nghiệm làm việc ít nhất 6 tháng ở đâu chưa”, và nếu trả lời chưa th́ có nghĩa là họ sẽ không bao giờ gọi lại cho bạn nữa.

Việc học đại học hiện nay không quá căng thẳng, vậy các bạn sinh viên có lẽ nên chủ động đi t́m việc làm ngay khi c̣n ngồi trên ghế nhà trường, Bạn sẽ tiết kiệm được một khoảng thời gian khá dài, tha hồ trải nghiệm, tha hồ làm sai, tha hồ thử khả năng mà không phải trả giá đắt như khi bạn chính thức đi làm.

Tiếng Anh, tiếng Anh, và tiếng Anh!

Tiếng Anh là một trong những cản trở lớn nhất hiện nay của CNTT Việt Nam


Một điều tra gần đây cho thấy chỉ số tiếng Anh của Việt Nam chỉ đạt khoảng 2,5/10, thuộc hàng yếu nhất trong khu vực Đông Nam Á, một trong những khu vực nói tiếng Anh yếu nhất thế giới. Trong khi sách vở, tài liệu hướng dẫn CNTT hầu hết đều là tiếng Anh, nhất là các tài liệu mới. Tiếng Anh c̣n là công cụ không thể thiếu khi làm việc với đối tác nước ngoài. Thực tế, rất nhiều học bổng không t́m đủ số người đi chỉ v́ tiếng Anh yếu quá. Nhiều nước chọn Ấn Độ làm thị trường outsourcing chính có lẽ không phải v́ người Ấn giỏi hơn người Việt mà chính là do đây là quốc gia nói tiếng Anh khá nhất trong số các nước có thu nhập b́nh quân đầu người thấp. Có thể nói, tiếng Anh là một trong những cản trở lớn nhất hiện nay của CNTT Việt
Nam, nếu khắc phục được nhược điểm này, thiết nghĩ con đường CNH, HĐH sẽ ngắn đi đáng kể.

Ngày mai trời lại sáng…

Đáng mừng là đây đó đă xuất hiện những dấu hiệu lạc quan! Aptech, CDIT, NIIT, Arena, học viện Cisco… đă và đang khẳng định vai tṛ và thế mạnh thực tế của ḿnh. Có thể coi đây là một giải pháp cho t́nh trạng thừa thầy thiếu thợ của CNTT Việt
Nam?

Nhiều cuộc thi CNTT , phần mềm hết sức thực tế và hữu ích như Trí Tuệ Việt
Nam, APICTA, Tin học sinh viên, Phần mềm sáng tạo, VIFOTEC… đă tạo nên nhiều phần mềm tiếng Việt có giá trị sử dụng.

Một thế hệ thầy giáo CNTT được giữ lại trường giỏi chuyên môn, trẻ và làm việc theo phong cách mới đă thổi một luồng gió mới, dù nhẹ vào môi trường giáo dục CNTT trong các trường chuyên nghiệp.

T́m hiểu qua một số bạn bè và sách báo, tôi được biết có rất nhiều sinh viên đang tự mày ṃ, ngày đêm miệt mài làm sản phẩm. Những diễn đàn CNTT chật cứng trên mạng Internet đang hứa hẹn một vụ mùa mới trĩu bông của CNTT nước nhà.

Và thực tế đă sáng sủa hơn khi biết một số công ty như FPT tuyển sinh viên làm việc nửa ngày, nhiều bạn trẻ đă không ngần ngại nộp hồ sơ, và tha thiết được xin vào làm không lương. Đây có thể nói là một bước đệm rất đáng khuyến khích, một giải pháp tạm thời cho câu hỏi lớn hiện nay.

Thế hệ trẻ nhiều đam mê và khao khát, đang tạo ra một làn sóng mới. Tiếp sau các tên tuổi lừng lẫy một thời như GS.Bạch Hưng Khang, TS.Quách Tuấn Ngọc, Đặng Minh Tuấn… đang có những cái tên trẻ được nhiều người biết đến với danh từ chung: 8X. Những Vương Vũ Thắng, Nguyễn Hoà B́nh, Triệu Trần Đức, Phùng Tiến Công… đang ngày đêm xếp những viên gạch tiếp theo lên cây cầu CNTT nối Việt Nam với thế giới bằng cả tuổi trẻ đầy hoài băo. Họ có thể sai, họ có thể va vấp, nhưng họ đang làm việc cật lực và cống hiến hết ḿnh.

Chúng ta có quyền hy vọng!

Hà Nội, tháng 1/2005.

Một cựu du học sinh tâm huyết với CNTT nước nhà./

 

---------------------------

Michelle (-st-)

For more information, pls contact:

b_brooch@yahoo.com.sg

or:

hungloantram@hcmc.netnam.vn