Học Viện Thần Học PHAO-LÔ NGUYỄN VĂN
BÌNH
Giuse Nguyễn Trung Kỳ
TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH
NHỮNG KHỦNG HOẢNG HIỆN NAY
TRONG BÍ TÍCH HÒA GIẢI
Tháng
07 năm 2001.
ĐÔI LỜI TRI ÂN
Để hoàn thành tập luận văn này, tôi đã nhận được sự cổ vũ và giúp đỡ rất nhiều từ giáo sư hướng dẫn và nhiều anh em bạn bè trong và ngoài Dòng Tên. Tôi chân thành cám ơn tác giả những sách tôi đã đọc, qua đó nhận được những ánh sáng cho những suy tư của mình. Nhưng những tiếp xúc và gặp gỡ trực tiếp còn đáng trân trọng hơn, và tôi muốn, một cách đặc biệt, ghi nhận lòng tri ân đối với:
° Linh mục Đỗ xuân Quế, O.P., người trực tiếp hướng dẫn tôi trong việc hoàn thành luận văn này.
° Linh mục Phạm gia Thụy, DCCT, người đã cho tôi những kinh nghiệm mục vụ quý giá về bí tích hòa giải cũng như hiểu biết thực tiễn về nhiều vấn đề luân lý trong đời sống.
° Các giáo sư tại học viện thần học Phaolô Nguyễn văn Bình, những người đã cố gắng truyền đạt cho tôi kho tàng tri thức của Hội Thánh.
° Linh mục Julio Giulietti, S.J., đại học Georgetown, Washington, người thường xuyên trao đổi và hướng dẫn tôi trong việc suy tư về chủ đề này.
° Linh mục John Mace, S.J., đại học Ateneo Manila, người bạn đã cho tôi những kinh nghiệm quý giá về tình bạn chân thành.
° Các anh em Dòng Tên hải ngoại, những người đã gửi cho tôi nhiều tài liệu hữu ích cho đề tài nghiên cứu theo yêu cầu.
° Cộng đoàn học viện Dòng Tên Việt Nam, nơi tôi đã sống và khám phá tình bạn theo chiều sâu của nó, qua đó hiểu được giá trị của bí tích hòa giải.
° Nhiều anh chị em trong các nhóm giáo dân tôi đã giúp, qua họ tôi đã hiểu được hơn tác động của bí tích hòa giải trong việc biến đổi đời sống.
° Và rất nhiều anh chị em tôi đã gặp gỡ và cùng trao đổi về những khó khăn trong đời sống đức tin, qua đó tôi hiểu hơn về nhu cầu cấp thiết của việc giải quyết những vấn đề sẽ được đề cập trong bài này.
Nguyễn Trung Kỳ
Tháng 6.2001
* *
*
MỤC LỤC.
Đề mục Trang
CHỮ VIẾT TẮT.................................................................................................................................................. c
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VÀ DUYỆT THƯ TỊCH....................................................................................... 1
1. BỐI CẢNH NGHIÊN
CỨU.................................................................................................................. 1
2. DUYỆT THƯ TỊCH................................................................................................................................ 2
2.1. Những khủng hoảng trong bí tích giải tội........................................................................ 2
2.2.Thần học luân lý cần thay đổi cách nhìn về tội............................................................... 3
2.3.Những thay đổi sau công đồng Vatican II.......................................................................... 3
2.4.Tổng kết...................................................................................................................................... 4
3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT............................................................................................................................. 4
4. PHÁT BIỂU VẤN ĐỀ........................................................................................................................... 6
5. TÍNH CẤP THIẾT VÀ Ý
NGHĨA........................................................................................................ 6
6. PHẠM VI VÀ GIỚI
HẠN..................................................................................................................... 7
7. ĐỊNH NGHĨA MỘT SỐ
KHÁI NIỆM................................................................................................. 7
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................................................. 9
1. KẾ HOẠCH NGHIÊN
CỨU............................................................................................................... 10
2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN
CỨU............................................................................................................. 10
3. PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN
CỨU......................................................................................................... 10
3.1.Công cụ:................................................................................................................................... 10
3.2.Nguồn dữ liệu......................................................................................................................... 10
4. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU.............................................................................................................. 11
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN.................................................................................................. 12
1. NHẬN DIỆN KHỦNG
HOẢNG........................................................................................................ 13
1.1.Trong thực hành:.................................................................................................................... 13
1.2.Trong nhận thức:.................................................................................................................... 13
2. ĐI TÌM NGUYÊN NHÂN................................................................................................................... 15
2.1.Khó khăn của các giáo dân................................................................................................ 15
2.2.Tâm lý của người giáo dân đối với việc xưng tội.......................................................... 16
2.3.Về phía người giải tội........................................................................................................... 19
2.4.Vài nhận định......................................................................................................................... 20
3. NHỮNG VẤN ĐỀ PHẢI
GIẢI QUYẾT: CANH TÂN NGHI THỨC VÀ NHẬN THỨC......... 21
3.1.Nhìn lại lịch sử phát triển của bí tích hòa giải.............................................................. 21
3.1.1.Việc hòa giải thời
các Giáo phụ.................................................................................. 21
3.1.2.Hình thức hòa giải
Celtic............................................................................................. 22
3.1.3.Cuộc cải cách của
Giáo Hội Tin Lành và công đồng Trentô...................................... 22
3.1.4.Những suy tư của thế
kỷ XX về bí tích hòa giải......................................................... 22
3.2.Thần học về bí tích, quá khứ và hiện nay........................................................................ 24
3.2.1.Sacramenta pro populo................................................................................................ 24
3.2.2.Bí tích và kinh nghiệm
của con người.......................................................................... 25
3.2.3.Bí tích là những biểu
tượng.......................................................................................... 26
3.3.Thần học về bí tích hòa giải, quá khứ và hiện nay....................................................... 26
3.4.Đi tìm một cái nhìn mới về tội............................................................................................ 29
3.4.1.Ý niệm tội trong Kinh
Thánh....................................................................................... 29
3.4.2.Giáo Hội với quan
điểm về tội.................................................................................... 33
3.4.3.Tội và thần học
luân lý................................................................................................ 35
3.4.4.Những thay đổi trong
thời kỳ sau công đồng Vatican II............................................. 35
3.4.5.Vài suy tư về nhân
học Kitô giáo................................................................................ 36
3.4.6.Những mẫu thức thần
học trong quá khứ về tội........................................................... 37
3.4.7.Một hướng đi mới cho
thần học về tội. Mẫu thức cơn nghiện..................................... 41
3.5.Canh tân nghi thức hòa giải trong cái nhìn của mẫu thức cơn nghiện.................... 44
3.5.1.Canh tân phụng vụ bí
tích hòa giải: Một nhu cầu thiết thực........................................ 46
3.5.2.Vai trò của cha giải
tội................................................................................................. 50
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ GỢI MỞ........................................................................................................ 52
PHỤ LỤC:............................................................................................................................................................ 54
THƯ MỤC............................................................................................................................................................ 58
* *
*
SC Sacrosanctum Concilium, Hiến chế về Phụng vụ Thánh.
GS Gaudium et Spes, Hiến chế Mục vụ.
LG Lumen Gentium Hiến chế Tín lý.
GS Gaudium et Spes, Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong thế giới hôm nay.
ST Summa Theologiae, Tổng luận Thần học của Thánh Thomas.
Dẫn nhập.
“Ta đến để cho chúng được
sống, và sống đồi dào.”
Ga 10,10.
“Chỉ có một điều xấu xa căn bản nhất
là thiếu yêu thương.”
-
John
Robinson
“Nghi
lễ và công thức Bí Tích Giải Tội phải được duyệt lại
để diễn tả rõ ràng hơn hiệu quả của Bí Tích này.”
-
SC 72.
Chúng ta đang ở vào đầu thế kỷ XXI. Khoảng thời gian hai ngàn năm có thể cho ta một ấn tượng về một Giáo Hội trưởng thành, thậm chí có người còn coi là già nua. Nhưng một giáo sư về Giáo Hội học đã nói rằng cứ nhìn về Giáo Hội một trăm ngàn năm nữa sẽ thấy Giáo Hội hiện nay vẫn còn non trẻ lắm, vẫn còn nhiều vấn đề lắm, và sẽ còn phải thay đổi nhiều. Cho nên, nhìn vào những vấn đề đang tồn tại, thiết tưởng không phải là một cái nhìn bi quan. Giáo Hội phải lớn lên, phải thay đổi cùng với những đòi hỏi của thời đại, để chứng tỏ sức sống mạnh mẽ của Thánh Linh trong thế kỷ này. Cho nên, khủng hoảng xảy ra trong mọi thời kỳ lịch sử không phải là điều lạ.
Thay đổi nói chung làm con người khó chịu, và những thay đổi đã xảy ra trong Giáo Hội những thập niên gần đây hẳn làm bối rối nhiều người Công giáo. Nói chung, người ta hiểu rằng công đồng Vatican II đã đem lại “một luồng gió mới”, nhưng không hiểu rõ đó là gì, tại sao phải thay đổi. Họ càng ít rõ hơn vai trò họ phải đảm nhận trong những thay đổi ấy.
Hiển nhiên là trong sinh hoạt của Giáo Hội, những thay đổi có thể dễ nhận thấy nhất là trong những việc cử hành các bí tích. Lối sống đạo theo truyền thống công đồng Trentô hơn ba trăm năm trước đã tạo nên một sự ổn định trong tâm thức của người giáo dân về hình thức sống đạo cũng như những phán đoán thiêng liêng. Sống đạo có nghĩa là phải đi lễ ít nhất mỗi Chúa nhật, chịu các phép bí tích khi cần thiếtt, xưng tội theo luật buộc, v.v. Ngày nay, nghi thức đã thay đổi, giáo dân được mời gọi đóng một vai trò tích cực hơn trong đời sống giáo xứ, và người ta ít đi lễ, ít xưng tội hơn. Do vậy, nhiều nghi vấn được đặt ra.
Nhưng phải nói ngay, khủng hoảng không phải một điều tai hại. Đó là một dấu hiệu đòi hỏi canh tân một não trạng hay một cách thực hành đang tồn tại và không còn thích hợp. Những xung đột nội tại làm cho một quan hệ trở nên căng thẳng, bị phá vỡ và tiến tới một trạng thái quân bình mới. Đây là một biện chứng tất yếu của mọi thể chế trong lịch sử. Xáo trộn thường làm cho người ta khó chịu vì đã quen với sự ổn định, nhưng nó lại là dấu hiệu của một sự trưởng thành, một sự quân bình mới hợp lý hơn.
Bí tích giải tội cũng nằm trong quy luật này. Trải qua gần hai ngàn năm tồn tại trong Hội thánh, nó cũng trải qua những biến đổi trong nội dung và cách thức cử hành. Công đồng Trentô đã đem lại cho thần học về bí tích giải tội một nội dung và hình thức tồn tại hơn bốn trăm năm nay. Do đó, một sự khủng hoảng xảy ra trong thế giới đang biến chuyển nhanh như hiện nay là điều dễ hiểu.
Một vấn đề đặt ra cho khoa thần học mục vụ hôm nay là sự xao nhãng của nhiều người Kitô hữu đối với việc xưng tội. Có lẽ không một nơi nào trong đời sống người Kitô hữu lại có nhiều vấn đề như bí tích hòa giải. Ngay từ trước công đồng Vatican II, nhiều vấn đề đã được đặt ra cách khẩn cấp, và số người đi xưng tội giảm đi ngày càng nhanh, đặc biệt trong các nước phương Tây. Trong đà phát triển kinh tế hiện nay và xu hướng toàn cầu hóa, hiện tượng này đã ảnh hưởng nhiều đến Giáo Hội Việt nam trong những năm gần đây. Những vấn đề của Giáo Hội phương Tây đã trở thành vấn đề của Giáo Hội Việt Nam, cách riêng trong khoa thần học mục vụ và bí tích.
Công việc canh tân nghi thức hòa giải sau Công đồng Vatican II là một trong những đáp ứng ít là phần nào cho những vấn đề này. Tuy nhiên, những nghi thức được canh tân ấy dường như chưa đáp ứng được cho những câu hỏi khó khăn của người tin, vì một điều dễ thấy là số người bỏ xưng tội vẫn không giảm mà còn tăng lên, kéo theo cả những người đạo đức.
Mọi người thiện chí đều mong mỏi tìm kiếm một giải pháp cho bầu khí tẻ nhạt nơi bí tích hòa giải hôm nay. Tiếc rằng những gì diễn ra chưa giải quyết được toàn diện các vấn đề. Vì một khi giáo lý vẫn còn chưa bắt kịp những thay đổi của xã hội và nhận thức của con người, thì khoa mục vụ còn phải gặp nhiều khó khăn. Việc huấn luyện các linh mục còn cần phải thích ứng hơn cho kịp với nhu cầu hòa giải của giáo dân. Và trong bối cảnh Giáo Hội Việt Nam, với nhiều hạn chế khách quan và chủ quan, việc huấn luyện này còn nhiều vấn đề hơn nữa.
Đã đến lúc dừng lại để kiên trì nghiên cứu và suy nghĩ. Cần phải tìm hiểu vấn đề trong tất cả các chiều kích lịch sử, tâm lý và thần học của nó. Đã đến lúc thẳng thắn đối diện với các vấn đề. Nhưng cũng cần phải sáng suốt trung thành với cả truyền thống. Thật dễ đánh mất cả một di sản khôn ngoan đã được tích tụ qua hàng bao thế kỷ bởi cả dân Chúa, gồm những người nhiệt thành dấn thân sống niềm tin của mình. Cần phải nhận thức rõ ràng rằng không chỉ ngày hôm nay mới có vấn đề. Trái lại, Giáo Hội đã trải qua những vấn đề của từng thời đại và lưu lại những kinh nghiệm quý giá.
Bài viết này muốn đi vào những khó khăn của giáo dân đã dẫn đến những khủng hoảng hiện nay trong bí tích giải tội. Bài viết cũng muốn phân tích những điểm khó khăn trong thần học về tội và trong chính bí tích rất gần gũi với đời sống đạo của giáo dân này, nhằm tìm một lối ra cho vấn đề.
Các tác giả khi bàn về thần học của bí tích giải tội cũng nêu những khó khăn của người giáo dân đối với bí tích giải tội. Đa số giáo dân bị chao đảo vì những kiến thức giáo lý của họ không được cập nhật, nên cảm thấy hoang mang với những vấn đề xã hội mới đặt ra (McCormick, 1989). Trong bối cảnh phương Tây, người ta cảm thấy bí tích này mất dần sức sống, nhất là trong hình thức cử hành như hôm nay, không đem lại cho con người hiệu quả như họ mong đợi (Hellwig, 1991). Con người hôm nay chờ đợi một bí tích gần gũi hơn, hiệu quả tha thứ và hòa giải cụ thể hơn, nhân bản hơn, trong khi nghi thức hòa giải lại tỏ ra thiếu uyển chuyển, đôi khi mang hình thức hơi khó hiểu, không thích hợp với não trạng hôm nay (Hellwig, 1991). Và họ quay sang đi tìm giải pháp đó trong những phương thế khác. Vì thế, cần cấp thiết canh tân nghi thức hòa giải và huấn luyện vai trò người giải tội theo một cương vị phù hợp với chờ đợi của người giáo dân hôm nay (Hellwig, (1991).
Như lời khuyến cáo của Hiến chế Phụng vụ Thánh được trích dẫn ngay đầu bài, thần học về bí tích hòa giải được mời gọi nhìn lại và tìm những cách thức diễn tả cho phù hợp với thời đại. Các sách thần học luân lý hiện nay đều dành ít là một chương cho chủ đề tội. Tuy nhiên, như R. McCormick nhận xét, ngày hôm nay, có vẻ người ta đang ở giữa mắt bão của vấn đề tội. “Trong khi các sách trước công đồng nói về tội với một sự rõ ràng, hệ thống, với những định nghĩa được xem là minh bạch về tội trọng, tội nhẹ... thì trong các sách luân lý hiện nay người ta cảm thấy có sự lúng túng, ngập ngừng trong việc diễn tả bản chất của tội” (McCormick, 1989; Hellwig, 1991). Nhìn chung, các sách thần học luân lý đều ghi nhận sự ảnh hưởng nặng nề của quan điểm luân lý truyền thống trên nhận thức của người giáo dân hôm nay về tội (Mahoney, 1987; Curran, 1999). Phân tích cho thấy rằng thần học luân lý cũ quá quan tâm đến tội mà không xét đến chiều kích ân sủng trong đời sống Kitô. Việc chú trọng chiều kích cá nhân của tội cũng làm người ta xao lãng trách nhiệm cộng đồng vốn là tái khám phá quan trọng của thời đại hôm nay. Cuối cùng, đời sống luân lý người tín hữu bị chi phối mạnh mẽ bởi luật lệ, một yếu tố được nhấn mạnh quá mức cần thiết trong việc sống đức tin. Chính những điểm yếu này là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng hiện nay (Mahoney, 1987).
Một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu dài trên thần học luân lý là các thủ bản thần học luân lý(manuals) và sách hướng dẫn giải tội (penitentials) (Mahoney, 1987). Cách trình bày tội theo truyền thống kinh viện cũng có một điểm chung là nhìn nhận tự do của con người trong hành vi của mình (Monden, 1965). Quan điểm này đã trở thành lập trường chung của Giáo Hội trong một thời gian dài. Theo quan điểm này, điểm cao quý nhất trong con người là lý trí để nhận định và chọn lựa trong hành vi của mình. Khi phạm tội, con người hoàn toàn tự do trong hành vi phạm tội của mình, và do đó phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về nó (Mahoney, 1987). Thần học kinh viện phân biệt ba yếu tố để làm nên tội: chất liệu, hiểu biết và tự do ưng thuận. Theo tiêu chuẩn này, con người phạm tội khi hoàn toàn tự do trong quyết định và chọn lựa chống lại Thiên Chúa.
Công đồng Trentô đã ấn định một kỷ luật về phụng tự tồn tại hơn ba trăm năm, ghi một dấn ấn khó phai mờ trong cách thức suy nghĩ của giáo dân cũng như thần học về tội.(Mahoney, 1987; Henri Rondet, 1965). Nhưng trước những đổi thay của cuộc sống, các nhà thần học được kêu gọi canh tân cách làm thần học nệ luật này. Cần phải khám phá lại những trực giác của Kinh Thánh và truyền thống trong một bối cảnh lịch sử nhất định, để tìm ra sự soi sáng của Thánh Thần trong Giáo Hội (Charles R. Mayer, 1975; E. Schillebeeckx, 1963). Cần đưa bí tích hòa giải trở về với mục đích nguyên thủy của nó là mang lại sự hòa giải cho tội nhân, chứ không phải đặt nặng việc xét xử và lên án (Mahoney, 1986). Bí tích hòa giải phải trả lời cho những vấn nạn khoa tâm lý đặt ra ngày hôm nay, để trở thành phương tiện hữu hiệu và khả tín cho con người hôm nay (Nguyễn văn Trinh, 1986)
Hưởng ứng lời mời gọi canh tân thần học của Vatican II, các thần học gia đã có những điểm mới mẻ trong cách trình bày của mình về tội và bí tích hòa giải. Một trong những cố gắng ấy là trình bày bí tích bằng một ngôn ngữ mới, nhằm nêu bật hoạt động của ân sủng Thánh thần trong đời sống. Bản chất của bí tích là kinh nghiệm của con người, và là biểu tượng cho một tương quan. Con người luôn sống trong những tương quan, và bí tích nhằm diễn tả tương quan ấy bằng biểu tượng và hiệu quả ân sủng. (Bernard Cooke, 1984; x. Haring, 1980). Người ta không lãnh nhận bí tích như một tác động bên ngoài, người ta sống thực bí tích ấy, và nó trở thành kinh nghiệm của mình. Do đó bí tích hòa giải cần toát lên được khuôn mặt của Thiên Chúa, Đấng luôn mong muốn hàn gắn những đổ vỡ do Satan gây ra trong tương quan của con người với Thiên Chúa. Nhận thức thân phận yếu đuối của con người, các tác giả xác tín rằng chỉ có niềm tin vào Thiên Chúa mới là cơ sở cho con người vượt lên trên yếu đuối của mình và thắng được sức mạnh của tội lỗi (Curran, 1999). Do vậy, tuy tội lỗi là điều khó tránh, nhưng cái mà con người tìm kiếm không phải là tránh tội, mà là tác động của ân sủng nhằm tái tạo con người trong tình trạng bất lực, để đưa về làm con cái Thiên Chúa và sống trong ánh sáng của ơn cứu độ của Người (Cooke, 1984).
Thần học luân lý cũng có nhiều đóng góp sâu sắc cho việc khám phá chiều kích cộng đồng của tội. Schoonenberg trong tác phẩm bàn về “tội thế gian” đã trình bày cách thuyết phục một cách hiểu vượt quá chiều kích cá nhân của tội (Schoonenberg , 1965). Tội không chỉ là tổng số những hành vi sai trái của con người. Nó là một thực tại bao trùm toàn thể xã hội con người. Curran cũng phê bình chủ nghĩa cá nhân trong luân lý truyền thống, và cho rằng “tội phải được nhìn như một sự tha hóa của những tương quan căn bản của con người – với Thiên Chúa và với nhân quần” (Curran, 1991). Rigali cho thấy chủ nghĩa cá nhân đã bỏ qua chiều kích cộng đồng nội tại của nhân loại, và che mắt trước một chiều kích nhân chủng học rộng lớn hơn. Và McCormick đòi hỏi thần học về bí tích hòa giải phải lưu ý hơn nữa đến chiều kích cộng đồng và những tội do cả một cơ cấu, một tổ chức gây nên trong đó mỗi con người đều có phần mình. (McCormick, R., 1989). Thần học giải phóng góp phần bằng một lưu ý đến vòng xoáy của tội lôi kéo mọi người vào một bầu khí chung trong đó mọi người phải chịu ảnh hưởng và chia trách nhiệm. (S.J. Duffy, 1993).
Qua ý kiến của các tác giả luân lý thời gian gần đây, cho thấy có một sự cần thiết thực sự phải đào sâu lại ý nghĩa của bí tích giải tội, cũng như đặt lại vấn đề quan niệm thần học về tội, để tiến tới một cái nhìn toàn diện hơn về thực tại tối tăm này. Đã có nhiều cố gắng để làm điều này. Những tác giả được trưng dẫn trên đây đã làm công việc này một cách cẩn thận, khoa học. Các vị ghi nhận giai đoạn đầy trăn trở của thần học hiện nay trong việc định hình một hướng nhận thức mới, vừa kế thừa truyền thống đức tin vừa mở ra trước những vấn đề thời đại. Những suy tư của họ về vấn đề mang lại một cái nhìn mới mẻ theo tinh thần của công đồng Vatican II, và trình bày qua bí tích hòa giải một khuôn mặt Thiên Chúa thương xót và khoan dung. Vấn đề của khoa mục vụ bí tích là tìm một cách thức áp dụng những trực giác ấy, dù chưa hoàn toàn hệ thống, vào việc đào tạo và giáo dục lương tâm người tín hữu, để giúp họ vững vàng trong đức tin trước những khủng hoảng lương tâm mà thời đại đã đem lại.
Vấn đề sẽ được nghiên cứu trong bài viết này là trình bày một cách hiểu đúng cho vấn đề tội, và dựa trên đó để bàn về bí tích hòa giải trong bối cảnh những khủng hoảng hiện nay. Một vấn đề cũ, nhưng luôn luôn mới, vì luôn phải đối diện với những thách đố của thời đại. Tuy nhiên, trước khi đi vào chi tiết, cần có một số ghi nhận làm nền tảng cho những vấn đề được khai triển. Những điểm ấy có liên quan đến cả thực tại tội lỗi và bí tích hòa giải, sẽ được kể ra dưới đây.
Trước hết, tội là một mầu nhiệm. Cho dù đây là một điều hiển nhiên, nhưng trong khi bàn đến tội, vẫn phải thường xuyên nhắc lại nó. Sự phong phú và chiều sâu của kinh nghiệm con người vượt quá những giới hạn của ngôn ngữ và không cho phép chấp nhận một định nghĩa đơn giản về tội. Cho nên, trong suốt lịch sử thần học luôn có những cố gắng định nghĩa lại. Mỗi định nghĩa cố gắng tập trung nắm bắt những yếu tố và phương diện khác nhau của thực tại chết chóc này. Không một định nghĩa nào chuyển thông được đầy đủ thực tại tội lỗi. Cùng lắm, nó chỉ hướng chúng ta về mầu nhiệm này mà thôi, và cho ta manh mối để hiểu được phần nào về tội.
Hơn nữa, tội là một ý niệm tôn giáo. Ý niệm tội đặt chúng ta trong một bối cảnh tôn giáo, nó chỉ ra tương quan của con người (và cộng đoàn) với Thiên Chúa. Nói đến tội là nói đến một sự đe dọa đến tương quan này. Vì thế, nói đến tội là nói đến Thiên Chúa và tương quan của con người với Ngài. Không thể giới hạn tội vào một ngôn ngữ thuần túy có tính đạo đức đơn thuần, về đúng sai hoặc tốt xấu. Trong khi vẫn chứa đựng một chiều kích luân lý, tội không chỉ là một hành vi vô đạo đức, vô luân. Nó là một sự phạm thánh.
Thứ ba, những người đang suy tư về tội đều là những tội nhân. Điều này đòi chúng ta một sự khiêm nhường và thận trọng. Tội không phải một đối tượng để ta nghiên cứu dưới kính hiển vi. Nó là một thứ bệnh ai cũng mang trong tâm hồn trong khi tìm kiếm chân lý. Thánh Gioan nói rằng tội lỗi thì ghét sự thật. Chúng ta đều có kinh nghiệm về điều này, mỗi khi suy tư về tội đụng phải những vấn đề cụ thể. Mặc dù chúng ta cần có một cảm thức về thân phận tội lỗi của chính mình, nhưng điều quan trọng là nhìn nhận rằng lịch sử của khái niệm này đã chịu ảnh hưởng bởi tình trạng tội lỗi của cả nhân loại.
Cuối cùng, tội lỗi chỉ là bóng tối của ân sủng. Chúng ta dễ bị mê hoặc bởi sức mạnh của tội, dễ bị chìm vào cơn xoáy của bóng đêm. Trong khi nghiên cứu thực tại tội lỗi, chúng ta phải ý thức rằng sự dữ này chỉ là một chứng bất toại nhỏ so với sức mạnh năng động của ân sủng. Chúng ta nghiên cứu nó không phải vì giá trị nội tại của nó, nhưng là để hiểu hơn và cộng tác với phương dược hồng phúc đem lại sự sống là lòng xót thương cứu chuộc của Thiên Chúa. Mục đích của chúng ta là tìm chữa lành. Nền tảng của chúng ta là đức tin.
Suy tư về bí tích hòa giải, trước khi lướt qua lịch sử của nó để tìm ra cách thức thi hành phù hợp với con người hôm nay, cũng cần nêu lên một vài tiền đề cơ sở. Trước tiên, phải xác tín rằng nơi Thập giá, Đức Giêsu đã cứu độ và hòa giải thế gian với Thiên Chúa Cha (1Pr 2,24). Bằng đời sống và cái chết của mình, Đức Giêsu đã chiến thắng tội lỗi và đem cả nhân loại vào thời đại của ân sủng. Tội lỗi tuy là một thế lực mạnh mẽ, nhưng đã không còn tiếng nói quyết định trên thế gian này.
Hơn nữa, ơn cứu độ sinh hiệu quả cho con người xét như là một toàn thể thống nhất. Tin Mừng thứ tư ghi lại lời của Đức Giêsu: “Ta đến để cho chúng được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Lời nói này cho thấy sứ vụ của Đức Giêsu khi đến thế gian không phải chỉ để cứu rỗi linh hồn con người song là toàn thể con người, nhằm đem họ trở về tình trạng thống nhất đã bị tội lỗi làm cho phân tán và hư hoại. Đức Giêsu đến đón tiếp tội nhân trong chính con người của họ, yêu thương họ và đưa họ đến sự sống mới. Ngài đưa họ đến một đời sống hoàn toàn mới. Những con người như các tông đồ, Madalena... khi gặp Đức Giêsu đều đã sống một đời sống mới. Đức Giêsu không chỉ mang lại ơn cứu độ cho linh hồn, Ngài trả lại cho con người sự vẹn toàn trong thân xác và tâm hồn. Ngài không chỉ chữa bệnh cho linh hồn, Ngài còn phục hồi con người trong moi chiều kích của nó.
Ân sủng của Thiên Chúa phát sinh hiệu quả nơi tâm hồn con người, nhưng cũng trả lại cho con người khả năng sống sự sống này trong tất cả những khả năng cao quý Thiên Chúa đã an bài. Nhờ được cứu độ, con người được giải thoát khỏi những xiềng xích ma quỷ đã dùng để kềm hãm lương tri và dám sống cho những gì cao quý và rộng rãi hơn. Nhờ được cứu độ, con người ý thức mình là một tạo vật được Thiên Chúa dựng nên trong yêu thương, và có tự do để làm chủ vận mệnh của mình. Họ được giải thoát khỏi những ràng buộc của lề luật để tự do sống theo Thần Khí.
Ơn cứu độ của Đức Giêsu đụng chạm đến tất cả chiều kích của cuộc sống con người. Ngài mang lại sự sống mới cho mọi cơ chế tổ chức của con người, để tất cả đều có thể trở nên tạo vật mới qua cái chết và sự sống của Ngài.
Cuối cùng, sứ mạng của Giáo Hội là tiếp tục sứ vụ hòa giải của Đức Kitô trên trần thế. Đức Giêsu đã trao cho Giáo Hội quyền bính và sứ mạng để tiếp tục công việc của Ngài cho đến ngày tận thế. Đó là sứ mạng hòa giải con người với Thiên Chúa, mang đến cho họ sự chữa lành và ơn bình an. Hội Thánh hiện diện giữa trần gian như bí tích cứu độ của Đức Giêsu. Hội Thánh phải thể hiện được vai trò hòa giải của mình để đem lại sự phục hồi cho con người và xã hội.
Mục tiêu của bài nghiên cứu này, dựa trên những suy tư nền tảng này, là phân tích những nguyên nhân của sự sút giảm lòng tin nơi bí tích hòa giải, để khám phá lại những chiều kích nhân bản thiết thân của bí tích này, và tìm kiếm những hướng đi thích hợp cho việc hiểu và sống ơn hòa giải trong đời sống Kitô hữu.
“Nhân loại ngày nay đang sống vào một giai đoạn mới trong lịch sử của mình. Đó là giai đoạn chất chứa những thay đổi sâu xa và mau chóng đang dần dần lan rộng tới toàn thể hoàn cầu ... Những hoàn cảnh mới cũng ảnh hưởng tới đời sống tôn giáo. Một phần vì khả năng phán đoán sâu sắc hơn đã thanh lọc khỏi tôn giáo quan niệm ma thuật về thế giới và những mê tín vẫn còn lan tràn đến ngày nay. Khả năng ấy đòi hỏi đức tin phải được chấp nhận ngày một thêm cá biệt và linh hoạt; bởi dó nhiều người đạt được một ý thức sống động hơn về Thiên Chúa.” (MV 4-7).
Những nhận xét của hiến chế Vui mừng và Hy vọng đã cho thấy một bức tranh phức tạp của xã hội hiện đại với những cơ cấu phức tạp của kinh tế, chính trị và tôn giáo. Đời sống ấy tạo nên một guồng máy vĩ đại lôi cuốn con người hôm nay vào trong một cơn lốc thời gian. Tất cả mọi cơ cấu truyền thống, những giá trị được bảo vệ qua bao thời đại đều trở nên lung lay, dễ sụp đổ. Người tín hữu hôm nay sống đạo với một não trạng mới, đòi hỏi hơn và phê phán hơn. Trước viễn cảnh một thế giới thay đổi nhanh chóng như hôm nay, không thể nào chấp nhận được tình trạng nhận thức của người tín hữu hôm nay về bí tích hòa giải. Xã hội tiến bộ thì nhận thức về nhân vị và trách nhiệm cá nhân cũng được nâng cao hơn, và do đó những gì còn mang tính ấu trĩ trong nhận thức của người giáo dân sẽ sớm muộn bị đào thải. Nếu không có được một cách trình bày giáo lý về bí tích giải tội mới, thì hiện tượng người ta bỏ xưng tội sẽ không có cách nào tránh được.
Trong khi đang có những cố gắng canh tân xảy ra trong lĩnh vực thần học luân lý và bí tích, thì vẫn còn rất nhiều tồn tại trên thực tế của một lối suy nghĩ và cử hành chịu ảnh hưởng của một truyền thống không thay đổi mấy trong suốt hơn ba trăm năm kể từ công đồng Trentô. Một đằng, người tín hữu đã quen với cách quan niệm cũ về tội, quen với hình thức xét mình và xưng tội cũ. Đằng khác, họ cảm thấy không thỏa mãn với cơ cấu ấy, vì óc phê phán giúp cho họ nhận ra những điểm thiếu sót trầm trọng cũng như những điểm yếu của cách cử hành này. Nhưng cuộc sống không ngừng lại mà vẫn tiếp tục lôi cuốn họ đi, với chút hiểu biết ít ỏi về đức tin và tôn giáo. Bởi có sự mất cân đối giữa nền tảng giáo lý và những chất vấn của thời đại, nguy cơ xa lìa bí tích hòa giải là điều khó tránh. Làm thế nào để cho người tín hữu hôm nay hiểu được giá trị trường tồn của bí tích cổ kính này, và đón nhận nó với tất cả giá trị thiêng liêng cần thiết?
Vấn đề được đặt ra cho những người làm thần học, các vị chủ chăn, trong cả lĩnh vực suy tư lẫn mục vụ. Trước hết, cần phải tìm lại nguồn mạch Kinh Thánh để tìm thấy dưới ánh sáng của Lời Chúa một nhận thức phù hợp về thực tại tội lỗi với tất cả các chiều kích của nó trong đời sống nhân loại. Kế đó, phải tìm được một cách thức cử hành bí tích giải tội và trình bày nó trong một đường lối thấm nhuần tinh thần của Tin Mừng cứu độ, là điều đang được con người hôm nay chờ đợi. Trong bối cảnh Việt Nam, một xã hội mới bắt đầu mở cửa để đón nhận những điều mới, bất kể tốt xấu, từ phương Tây, nhu cầu này càng cấp bách hơn. Sự thay đổi hôm nay của xã hội không còn tính bằng đơn vị thập niên nữa, song với tốc độ nhanh hơn nhiều. Điều này làm cho người giáo dân Việt Nam dễ bị lạc hậu về đức tin so với nhịp tiến của thời đại, nếu không được trang bị một hiểu biết chân chính và rõ ràng về thực tại tội và ân sủng trong đời sống mình.
Đặt vấn đề như thế, có thể thấy rằng việc suy tư về những khủng hoảng nơi bí tích hòa giải có một tầm quan trọng thực tiễn và cấp bách trong thế giới và trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam hôm nay.
Trong phạm vi nghiên cứu, vấn đề được thu hẹp trong việc suy tư về những đóng góp của thần học luân lý và bí tích cho vấn đề tội và việc xưng tội. Do vậy, trước tiên bài viết sẽ nhìn lại bí tích cổ kính này trong dòng lịch sử với những biến đổi của nó. Tiếp đó, trước khi tìm ra những lối ra cho vấn đề, cần nhìn lại ý niệm tội và bí tích hòa giải dưới một nhãn quan thần học quân bình. Từ đó, bài nghiên cứu cũng đặt vấn đề về cách thức thi hành bí tích hòa giải hiện nay trên quan điểm thần học mục vụ. Mục đích là tìm lối ra cho những khủng hoảng về phía giáo dân, linh mục, cũng như tìm những cách thức cử hành bí tích mới để tránh những khó khăn hiện tại.
Trước khi đi vào phân tích hiện trạng của bí tích giải tội, thiết tưởng nên dừng lại để tìm hiểu một vài khái niệm có liên quan đến nội dung này.
Trước hết là bí tích hòa giải. Bí tích này đã có nhiều tên gọi khác nhau trong lịch sử thần học và tín lý, trong đó phổ biến nhấn là “bí tích giải tội” và “bí tích hòa giải”. Bí tích này dù được thực hành ngay từ những thế kỷ đầu, nhưng chỉ được định hình và được đưa vào hàng bảy bí tích từ thế kỷ mười hai, dưới thời Kinh viện, và được công đồng Trentô định tín rõ ràng[1]. Trong bài viết, tùy theo văn mạch mà sẽ sử dụng hoặc một trong hai hạn từ này để chỉ cùng một bí tích mà thôi.
Từ ngữ thứ hai cần xác định trước ý nghĩa là tội. Sách Giáo lý Công Giáo định nghĩa: “Tội là lỗi phạm đến lý trí, chân lý, lương tâm ngay chính, là thiếu tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và tha nhân, vì quyến luyến lệch lạc với thụ tạo.” Sách cũng trích lại thánh Thomas khi định nghĩa tội là “một lời nói, một hành vi, một ước muốn trái với lề luật vĩnh cửu”[2]. Chúng ta sẽ có dịp trở lại định nghĩa này ở phần sau khi đi vào chi tiết khoa thần học bàn về tội. Nhưng phải lưu ý ngay rằng ý nghĩa của tội không phải chỉ có một, mà trong Kinh Thánh đã có nhiều cách hiểu khác nhau về nó. Để vắn tắt, xin trích lại đây lời giải thích của linh mục John Mahoney, trong bài viết ngắn “The Center of Moral Theology”[3]. Bài viết nổi bật với lời giải thích ngắn gọn về bản chất của tội:
“...Trong Anh
ngữ chỉ có một từ ngữ (sin)[4]
để chỉ ba ý niệm rất khác nhau được tìm thấy trong Kinh Thánh. Vì thế,
nhiều ngộ nhận không cần thiết đã xảy ra.
“Tội” có
thể chỉ một sự kém hoàn hảo của thân phận con người, sống trong một
thế giới bất toàn, sống giữa những người khác. Chúng ta sống trong
một thế giới của đau khổ, bệnh tật và thiếu tình yêu. Khi người ta
nói đến “Nguyên Tội”, cụm từ đã nói lên phần lớn hiện trạng này.
Một đứa trẻ được sinh ra trong một thế giới sẽ ảnh hưởng trên cuộc
đời nó, và đó là “tì vết” cơ bản của phận người. Chúng ta sống
“lạc điệu” với Thiên Chúa, với thiên nhiên tươi đẹp, với tình yêu.
Chúng ta được thách đố biến đổi điều đó. Tôi không đích thân “oán
trách” thế giới đã ra như thế, dù tôi được kêu gọi để biến đổi
nó. Có lẽ nên nói theo kiểu tôi đã nghe từ Rainbow House: “Bạn không
phải “đích thân” chịu trách nhiệm về mọi người ở Êthiôpi.”
“Tội” cũng
chỉ sự kiện “thiếu điểm.” Tại một cuộc thi bắn cung, người nào cũng
gắng hết sức để bắn trúng hồng tâm. Tùy vào tài năng bẩm sinh,
sức khỏe, sự chuyên cần tập luyện, sức gió, v.v., người ấy có thể
bắn trúng hồng tâm hay trật ra ngoài. Mục tiêu càng xa, càng khó
bắn trúng đích. Đến một mức nào đó, không ai có thể bắn trúng đích
được. Có khi một người lẽ ra sẽ là nhà quán quân, nhưng lại hắt hơi
ngay khi buông cung. Dây cung có thể bị đứt. Hoặc đơn giản là anh ta
mệt mỏi. Tóm lại, thách đố ở đây là mỗi người cố gắng hết sức
của mình, nhưng không một ai có thể dự mọi cuộc thi, và cũng không
thể luôn luôn bắn tốt. Thách đố của chúng ta là sống cho tốt, trong
khi chấp nhận rằng đôi khi chúng ta có thể “mất điểm.” Chúng ta vẫn
có thể tin vào mình khi vẫn còn nhất tâm cố gắng.
Thứ ba, “tội” có
thể chỉ tội của bản thân, một chọn lựa làm điều sai, quay lưng với
Thiên Chúa, với anh em mình, và theo một nghĩa nào đó, với chính mình.
Chính trong ý nghĩa thứ ba này, trách nhiệm cá nhân là điều then
chốt.”
Lời dẫn giải trên đây có thể cho ta hình ảnh về thực tại tội sẽ được dẫn giải chi tiết trong phần sau. Cũng có thể thấy rằng quan niệm về tội không có sự thống nhất, và điều đó dễ hiểu. Tội là một mầu nhiệm.
* *
Để đi vào tìm hiểu những khủng hoảng xoay quanh việc xưng tội, trước tiên cần (1) nhận diện những khó khăn nơi những lớp người cụ thể, tức là người xưng tội và người ban bí tích giải tội. Trong khi phân tích những khủng hoảng ấy, cũng phải (2) xem lại cách thức cử hành bí tích giải tội hiện nay, nhưng cách thức ấy lại có liên quan đến (3) quan niệm của Giáo Hội về tội lỗi. Hiểu được điều ấy, người ta có thể hiểu được ý nghĩa và giá trị của nghi thức được cử hành. Cũng cần xem lại (4) giáo huấn của Giáo Hội về bí tích hòa giải hiện nay. Dựa trên đó, việc nghiên cứu sẽ đi đến (5) tìm ra một mẫu thức thần học về tội phù hợp với những hiểu biết hôm nay, và (6) đưa ra những hướng canh tân bí tích để đáp ứng cho những đòi hỏi của cuộc khủng hoảng.
Vấn đề sẽ được nghiên cứu bằng việc nghiên cứu tư liệu và phân tích nội dung. Bài viết sẽ đi theo hướng phân tích các quan điểm truyền thống và hiện đại về bí tích, đối chiếu để soi sáng những khủng hoảng hiện tại. Những kết quả của khoa học tâm lý và xã hội hiện đại cũng được sử dụng để minh họa vấn đề. Các luận cứ được đưa ra sẽ được minh họa bằng những kinh nghiệm thực tế mà người viết đã thu thập được.
Những tác phẩm được sử dụng, tuy không nhiều, nhưng cũng đủ để cho một cái nhìn hệ thống về truyền thống bí tích hòa giải trong lịch sử, cũng như những khủng hoảng hiện tại.
Đối tượng của bài nghiên cứu này là trình bày bí tích hòa giải dưới một nhãn quan mới chú trọng đến chiều kích hòa giải, để tìm lối ra cho những khó khăn được nêu ra.
Chủ yếu là các sách thần học có trong tay và một số văn kiện của Huấn quyền Hội Thánh (Kinh Thánh, Công đồng và sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo).
Để đi vào nghiên cứu, về mục vụ ban phép giải tội, người viết đã lấy thông tin thực tế bằng việc hỏi một số linh mục và nhiều anh em trong Dòng Tên đang làm mục vụ cho giáo dân. Còn về phía người lãnh nhận ơn hòa giải, người viết đã điều tra tình hình lãnh nhận bí tích hòa giải nơi các giáo dân. Vấn đề được hỏi bao gồm mức độ thường xuyên đi xưng tội, cách thức xét mình và xưng tội, cảm thức của họ trước và sau khi xưng tội, và nhận định của họ về tác động và sự cần thiết của bí tích hòa giải trong đời sống. Kết quả của việc gặp gỡ và trao đổi này cũng được đưa vào để soi sáng vấn đề. Những anh chị em này, đa số vẫn đang giữ đạo, một số mới xưng tội sau một thời gian dài, và có vài trường hợp không xưng tội một thời gian dài cho đến hôm nay. Trong số những người ít hoặc không xưng tội, hầu hết thuộc thành phần giới chức và trí thức, chỉ có hai trường hợp là thuộc thành phần nông dân. Tiếc vì thời gian có hạn, người viết không thể tiến hành công việc này trên một tỷ lệ lớn hơn. Do vậy, không thể đưa ra các con số theo kiểu thống kê, mà chỉ sử dụng chất liệu trao đổi nhằm minh họa cho vấn đề được trình bày.
Các sách tham khảo ở Việt nam về vấn đề này không nhiều. Các tài liệu cũ thường không còn lưu giữ được, nên tất cả các sách tham khảo được chỉ được xuất bản gần đây, tuy nhiên cũng khá phong phú về nội dung. Tất cả được viết bằng Anh ngữ. Ngoài ra, tài liệu tham khảo còn được lấy từ nhiều bài viết trên Internet, từ quan điểm cá nhân cho đến văn kiện chính thức của Tòa Thánh.
Người viết khi thực hiện nghiên cứu này đã đi theo một quy trình như sau:
(1) Tìm và đọc các tài liệu đã trình bày về vấn đề tội và bí tích hòa giải.
(2) Ghi lại những đoạn, những ý tưởng quan trọng.
(3) Phê bình và tổng hợp các ý tưởng trên.
(4) Suy tư về những khủng hoảng hiện nay liên quan đến bí tích hòa giải, để tìm hiểu nguyên nhân và những vấn đề có liên hệ.
(5) Đề nghị một số điểm cần canh tân đối với bí tich này.
Tiến hành theo những bước trên, người viết mong muốn góp phần soi sáng phần nào một góc nhỏ của thần học về bí tích hòa giải trong thế giới hôm nay.
* *
*
Hiện nay người ta vẫn đi xưng tội. Vẫn có những hàng người xếp hàng dài tại các nhà thờ lớn nhỏ để lãnh nhận sự hòa giải cùng Chúa và Hội Thánh. Đặc biệt nơi những vùng sâu, sự xuất hiện của một linh mục là một niềm an ủi không nhỏ cho người tín hữu tại đó, vì đây là cơ hội hiếm hoi cho họ được xưng thú những lỗi lầm họ đã phạm trong một thời gian dài, mà họ không thể xưng tội được. Tuy nhiên, số người đi xưng tội đã giảm sút đáng kể, và hiện tượng ngày càng có chiều hướng gia tăng. Trong lớp trẻ hôm nay, số người chỉ còn giữ việc xưng tội vào các mùa Chay và mùa Vọng chiếm đa số. Một số còn khẳng định rằng mình không thấy tội gì để xưng (và do đó bỏ xưng tội luôn).
Cách thức xét mình của người giáo dân cũng gặp những khó khăn. Những thay đổi do đường hướng canh tân chưa thực sự đi vào đời sống giáo dân. Người ta vẫn còn xét mình một cách hời hợt, vội vã, chú ý đến việc kể tên và số lượng các lần phạm nhiều hơn sự quan tâm đến động cơ hành động và thực chất của hành vi ấy. Và người giáo dân đến với bí tích hòa giải với tâm trạng của một phạm nhân bị đem ra luận tội, nên không khỏi hoang mang, bối rối khi đề cập đến những lỗi phạm của mình. Cho nên, cảm giác thoải mái khi ra khỏi tòa giải tội không phải là cảm giác của một con người được hòa giải thực sự với mình và với Thiên Chúa, với anh em, song là cảm giác của một người vừa thoát khỏi một nơi vì miễn cưỡng mà buộc phải đến.
Nghi thức hòa giải cũng gây ra những khó khăn. Từ khi xuất hiện lại những hình thức hòa giải khác nhau như giải tội tập thể có hoặc không có xưng tội riêng, nhiều người tỏ ra hoang mang về sự cần thiết phải xưng tội riêng. Nếu cần thiết thì đâu có thể bỏ qua, dù là trong trường hợp khẩn cấp. Nếu cần thiết thì nghi thức hòa giải trong những trường hợp đặc biệt kia có hiệu lực không? Rồi công thức “Ta giải tội cho con...” có nghĩa như thế nào? Linh mục có thực quyền giải tội, hay chỉ là đại diện của Thiên Chúa?
Trong thực hành có những khó khăn như thế, còn trong nhận thức của người giáo dân, khủng hoảng xảy ra sâu xa và trầm trọng hơn. Đặc biệt trong lòng giới trẻ hôm nay, sự nghi vấn và những băn khoăn về việc xưng tội ngày càng lớn.
Sự băn khoăn của người trẻ liên quan đến bản chất của tội và hiệu quả cũng như sự cần thiết thực sự của bí tích giải tội. Họ nghi ngờ về tính chất tội lỗi của những điều lâu nay họ vẫn xưng thú trong tòa giải tội. Nhiều điều được xưng thú nhiều lần mà không sửa đổi được dẫn đến sự chán chường và nguội lạnh với bí tích này. Có những thay đổi nơi nhận thức của người trẻ về những hành vi bị ngăn cấm như trong lĩnh vực công bình xã hội, tính dục... cũng làm cho họ xao nhãng bổn phận này, hoặc đơn giản chỉ vì bận công việc đến độ không còn thời giờ đi xưng tội nữa.
Ngày nay, dễ nghe thấy những lời phân trần đại loại như: không cảm thấy có tội gì, những chuyện xưng thú lâu nay đâu còn là tội nữa, có xưng tội mà không chừa được thì cũng vậy, lâu quá rồi không xưng tội, sợ bị la mắng. Đa số người trẻ hôm nay chỉ còn giữ việc xưng tội tối thiểu theo luật buộc, và cảm thấy bí tích giải tội chẳng làm thay đổi đời mình gì cả.
Trên khắp thế giới Công giáo, các nhà thần học cũng nhiều lần báo động về một sự sa sút trong việc lãnh nhận bí tích giải tội. Ngay sau công đồng Vatican II, Bernard Haering đã nói đến hiện tượng người ta bỏ việc xưng tội hàng tuần hoặc hàng tháng, tỏ ra thờ ơ và bỏ bê việc xưng tội. Gần đây, các nhà thần học Mỹ và châu Âu cũng đề cập đến hiện tượng này. Điển hình là Patrick McCormick và Charles E. Curran nói đến hiện tượng người ta đặt nghi vấn nhiều về việc xưng tội, hoặc tỏ ra bối rối với những khai niệm tội hoàn toàn mới so với cách xét mình truyền thống như những vấn đề xã hội chẳng hạn. Xã hội công nghiệp cuốn hút mọi người vào dòng thác công việc, nên người ta dần dần không còn thời giờ dành cho gia đình cũng như các việc đạo đức cá nhân. Nhà thờ dần dần vắng lạnh, và dĩ nhiên việc xưng tội cũng giảm đi trầm trọng.
Riêng tại Việt Nam, truyền thống giữ đạo nói chung vẫn còn tốt. Các xứ đạo toàn tòng vẫn giữ được nét sinh hoạt đều đặn, nhưng khủng hoảng đang diễn ra âm thầm trong lòng người tín hữu. Đi về những vùng hẻo lánh có thể nhận thấy rằng, dù người ta sốt sắng đi xưng tội khi có các linh mục, nhưng đời sống của họ cho thấy không có một bóng dáng nào của sự cố gắng canh tân. Các phương tiện giải trí, truyền thông cuốn hút người ta, rút bớt những giờ kinh nguyện và do đó dần dần đi đến chỗ quên hẳn đời sống nội tâm của mình. Tại các thành phố công nghiệp, mức độ khủng hoảng còn rõ nét hơn. Trong một xã hội công nghiệp, người ta ít có cơ hội đào sâu giáo lý công giáo mà lại chuyên lo trau dồi ngành nghề và kiến thức phổ thông. Kiến thức càng dồi dào, người trẻ hôm nay càng dễ dị ứng với những cách trình bày giáo lý cổ điển và trở nên hoài nghi về chúng.
Ngày nay, người ta còn thờ ơ với chính khái niệm tội. Người ta tránh nói đến tội, và có khuynh hướng dừng lại ở mức độ nhân bản. Một hành vi sai phạm có thể được người ta ăn năn thoáng chốc, quyết tâm sửa chữa, và thế là xong. Hoặc coi đó là chuyện thường tình, một thói quen lệ thuộc vào tính khí, nhận thức và “văn hóa.” Những tâm hồn còn giữ được ý thức về tội thì quan tâm đến chiều kích cộng đồng của con người, thay vì chỉ lo xét bản thân về những bí mật riêng tư mà chỉ được thổ lộ trong tòa giải tội. Họ bắt đầu làm quen với những khái niệm mới mẻ: tội cơ cấu, bất công xã hội, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc... Những điều này có tầm mức ghê gớm hơn nhiều, và trách nhiệm của nó thì chưa được minh định. Từ đó, người ta quay ra ít để ý đến tội như được quy định trong các bản xét mình trong truyền thống. Đây là một điểm đáng mừng và cũng đáng băn khoăn, vì nhận thức của người tín hữu đã bắt đầu đi vào một lĩnh vực mới nhưng chưa có sự thống nhất về quan điểm mục vụ cùng giải pháp thích hợp cho việc hướng dẫn.
Monika Hellwig còn ghi nhận một hiện tượng mà thiết tưởng không phải không có ở Việt Nam, xét vì những xu hướng hiện nay trong việc thực hành bí tích hòa giải. Bà nhận thấy có một con số ngày càng lớn những Kitô hữu, trong khi dấn thân phục vụ một cách quảng đại và vẫn thường xuyên đến với bí tích Thánh Thể, lại thấy rằng lương tâm họ cho phép rời bỏ bí tích hòa giải một cách vĩnh viễn hoặc trong thời gian dài, và đồng thời vẫn thực hành các phương pháp ngừa thai bị cấm, sống quan hệ hôn nhân với người thứ hai trong khi hôn nhân thứ nhất vẫn còn có hiệu lực, hoặc nhiều khi quyết định bằng lương tâm của mình những điều bị huấn quyền chính thức coi là tội trọng. Cũng không ít những người chấp nhận một cuộc hoán cải thầm kín riêng tư, sau đó tham dự thánh lễ mà không làm gì hơn sau đó.[5]
Về phía các linh mục, người lắng nghe và ban bí tích hòa giải cho hối nhân, vấn đề có vẻ đơn điệu và lặng lẽ hơn. Việc ngồi tòa lâu ngày dẫn đến hiện tượng mỏi mệt, làm qua loa. Nhiều linh mục có thái độ nhàm chán với việc ngồi tòa, vì phải nghe đi nghe lại một số tội đơn giản của những người mà các ngài không biết mặt hoặc không có một tương quan nào với họ. Con số giáo dân xưng tội đông đảo vào các ngày lễ trọng làm cho các vị mệt mỏi và không còn thực hiện hết vai trò mục tử của mình.
Đó là nhìn chung toàn cảnh. Hiện tượng thờ ơ với bí tích hòa giải diễn ra trầm lặng trong đời sống tôn giáo của mỗi người, nhưng để lại những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt trong đời sống đức tin và luân lý. Cần tìm hiểu nguyên do sâu xa của nó cũng như suy nghĩ để tìm một cách thức canh cải nghi thức hòa giải cho phù hợp.
Cha Phan tấn Thành có nêu ra một số vấn nạn từ phía giáo dân[6]. Nhìn chung, người giáo dân hôm nay cảm thấy nghi ngờ tính hiệu quả của bí tích giải tội khi phải xưng đi xưng lại một số tội quen thuộc mà không thấy sửa được những điều ấy. Nhiều người cảm thấy ngại ngùng khi phải nói những lỗi phạm của mình với một con người bằng xương bằng thịt như linh mục. Liệu xưng tội âm thầm với Chúa có được không? Ngay chính việc giải thích của linh mục nhiều khi cũng làm cho hối nhân bối rối. Bản thân người viết cũng gặp trường hợp này. Có khi một linh mục này tỏ ra nghiêm khắc về một lỗi phạm, trong khi vị khác thì coi như “chuyện không có gì mà ầm ĩ.” Hiện tượng người ta bỏ đi xưng tội dần, hoặc thôi không quan tâm đến tội nữa cũng thuộc vào những dấu hiệu của khủng hoảng.
Các thần học gia cố gắng tìm hiểu hiện tượng này và đưa ra những nhận định khá thống nhất. Về phía giáo dân, ngoài những nhận xét trên kia của cha Phan tấn Thành, có thể khẳng định một lý do căn bản là do một trình độ giáo lý non kém không tương thích với đòi hỏi của một não trạng xã hội công nghiệp hiện đại. Đa số người trẻ chấm dứt việc trau dồi giáo lý sau khi lãnh nhận bí tích thêm sức, và họ bước vào đời với kiến thức giáo lý của tuổi thiếu niên. Trước sự tấn công của các hệ tư tưởng vô thần, người trẻ dễ cảm thấy lung lay và mất niềm tin vào những gì đã được dạy hồi còn bé.
Chẳng những thế, họ còn gặp phải nhiều khó khăn trong chính bản thân mình. Giữa một thế giới mà mọi cơ hội phạm tội đều có sẵn, sự phòng vệ thiêng liêng trở nên yếu đuối và khi lặp đi lặp lại một số tội nhiều lần, họ dễ hoài nghi về những điều mình muốn xưng thú. Liệu đó có phải là tội không? Nếu xưng thú những hành vi này có vẻ ấu trĩ quá. Việc huấn luyện lương tâm người tín hữu gặp nhiều trở ngại do hoàn cảnh, nhưng cũng do việc dạy giáo lý còn thiếu hụt, nhưng hậu quả là người giáo dân gặp nhiều lúng túng trong những chọn lựa luân lý của mình, để quyết định hành vi nào là đúng theo tinh thần Tin mừng, hành vi nào là không.
Khoa tâm lý ngày nay cung cấp nhiều ánh sáng về chiều sâu của vô thức và những thói quen cố hữu của con người. Một đằng, những hiểu biết về chính mình làm cho việc xưng tội trở nên nhân bản hơn, nghĩa là giúp linh mục và hối nhân ý thức về những động cơ nhiều khi ngoài tầm ý thức của con người, để khiêm tốn và bình an đón nhận ơn thánh Chúa. Đằng khác, nó cũng dễ đưa người ta đến chỗ dễ dàng tha thứ cho những hành vi sai phạm của mình và coi đó chỉ là những lỗi nhỏ nhặt trong đời sống thường ngày, và không lưu ý đủ đến những động cơ thầm kín đằng sau.
Một yếu tố khác là ảnh hưởng của cách xét mình truyền thống đã ăn sâu vào đời sống Giáo Hội nói chung và tâm lý người giáo dân nói riêng. Những sách dạy xét mình (và giải tội) đều liệt kê các tội để người ta dễ dàng xét mình. Trong cách dạy giáo lý hiện nay, mỗi khi xét mình, người ta đều tìm kiếm những tội danh được ghi trong các sách giáo lý. Đôi khi họ được khuyến khích xét mình theo tám mối phúc, bảy mối tội đầu, v.v. Vô hình trung, nó làm cho người ta chú ý đến các tội được minh định rạch ròi và quên đi động cơ thâm sâu trong tâm hồn họ. Chính đây mới là yếu tố trung tâmvà quan trọng chỉ đạo mọi hành vi của họ. Do vậy, mặc dù bối rối, nhưng mỗi khi xét mình, người ta cảm thấy nhẹ nhõm khi phát hiện ra mình đã phạm tội nói dối bốn hoặc năm lần, bỏ lễ Chúa nhật hai lần. Thế là xong. Họ không cần xét xem lý do nằm đằng sau những hành vi sai phạm ấy. Việc xưng tội theo loại và số lượng đưa tới nguy hiểm là làm cho người ta chỉ chú trọng đến chúng, thay vì giục lòng người ta sám hối một cách chân thành về tương quan đang xấu đi với Thiên Chúa.
Với những người khác có một tâm hồn tế nhị hơn, thế giới hôm nay đặt ra những vấn nạn mới có tính xã hội. Người ta ý thức nhiều hơn về sự liên đới cộng đồng trong đời sống của mình. Không một hành vi nào của cá nhân thoát khỏi ảnh hưởng nhân quả của cả một tập thể trong đó họ đang sống. Do đó, xuất hiện nhiều khái niệm mới như tội cơ cấu, tội phân biệt chúng tộc, giới tính, vấn đề bất công, bóc lột, chủ nghĩa thực dân... Vậy mà tòa giải tội cho tới nay chỉ là nơi dành riêng cho những bí mật riêng tư thầm kín, “chuyện nhỏ” so với những vấn đề rộng lớn kia. Người ta ý thức bất công hiện diện trong mọi tổ chức, mọi cơ cấu, và trong khi trăn trở với chúng, dễ dàng xem nhẹ những vấn đề nhỏ như lười cầu nguyện, nói dối hoặc chửi tục một đôi lần.
Việc tham dự vào bí tích hòa giải của một hối nhân có thể được phân tích theo ba khía cạnh:
-
Cảm thức
về tội lỗi và nhu cầu hòa giải và hoán cải;
-
Hiểu
biết về vai trò trung gian của vị linh mục;
-
Nhận
thức và giải thích các nghi thức.
Trong từng nhân tố trên đây đều tồn tại những mâu thuẫn đối với người tín hữu hôm nay cần giải quyết.
Trước hết, phải khẳng định ngay rằng không thể có một sự hòa giải đích thực nơi bí tích hòa giải nếu không có một cảm thức tự nhiên và thực tế về tội lỗi, cùng với một nhu cầu hòa giải và hoán cải. Một phần của cảm thức này là vấn đề kinh nghiệm và sự tự nhận thức, một phần là do hiểu biết tội là gì. Cả hai đều có những khó khăn. Kinh nghiệm, sự nhạy cảm và nhận thức về mình của người ta chịu ảnh hưởng rất mạnh của môi trường văn hóa nơi người đó sống. Xã hội hôm nay đề cao giá trị cá nhân, và tìm cách giải quyết ngay (thường là trấn át) những cảm xúc và nhận thức tiêu cực về bản thân. Có thể gặp ở hiệu sách nhan nhản những sách khuyến khích một “tư tưởng tích cực”, hiệu quả, quẳng gánh lo đi và vui sống, vân vân. Xã hội cũng có khuynh hướng đề cao ảnh hưởng của cá nhân lên người khác, vì trong xu hướng cạnh tranh hiện nay, việc tự đề cao bản thân là một nhu cầu mạnh mẽ dựa trên một xác tín rằng bản thân xứng đáng được hưởng những lợi thế về mọi mặt mà không cần đếm xỉa đến người khác.
Áp lực ấy từ nền văn hóa xung quanh lại thường được gặp gỡ nơi người tín hữu một kinh nghiệm thường là nông cạn và trống rỗng về bí tích hòa giải. Nên dừng lại một chút để phân tích kinh nghiệm điển hình của một người tín hữu. Phần lớn các người tín hữu lần đầu tiên đến với bí tích hòa giải là lúc chuẩn bị rước lễ lần đầu. Khi ấy, họ được hướng dẫn bởi những chỉ dẫn nghiêm túc kỹ càng về việc xưng tội. Tất cả diễn ra như một tiến trình để đưa họ hội nhập vào cộng đồng Dân Chúa, một thứ nghi thức phải vượt qua để được công nhận sự trưởng thành của mình và để được lãnh nhận Thánh Thể. Tất cả không nhất thiết phải có liên quan đến một cảm thức về sự tội ở nơi mình hay một nhu cầu hoán cải và giao hòa, nhưng thường đi đôi với một nhu cầu vươn lên một tình trạng mới nhờ việc “thi cử”. Việc xưng tội này vì thế thiếu tính cách xác thực, nhưng được nhiều người thực hiện với một hiểu biết chưa đủ về tội. Để vượt qua kỳ thi, người đó phải học cả một tràng dài những lỗi phạm rất thích hợp với tòa cáo giải. Ngoài ra, người ấy còn phải định kỳ làm việc xưng tội, một việc thường được quy định chặt chẽ bởi các lớp giáo lý nhưng không ăn nhập gì với kinh nghiệm riêng, hành vi và sự tự nhận thức của từng người. Họ hiểu tội nhất thiết là những hành vi cụ thể vi phạm đến những lệnh truyền minh nhiên (thường là những lệnh cấm). Tội không là gì khác hơn là phá vỡ những quy tắc được quyền bính thiết định.
Phần lớn những người lớn hôm nay, trong nhiều trường hợp khác nhau, mang một ý niệm bất tương xứng như thế về tội. Thực tế sẽ cho thấy không hoàn toàn đơn giản như vậy. Cuộc sống không luôn luôn rạch ròi trắng đen. Cái tốt không luôn luôn là những điều đã được quyền bính thiết định, cũng không luôn luôn được vạch ra ngay trước mắt. Hơn nữa, những vấn đề trong thực tế xem ra tinh tế hơn nhiều. Chúng không chỉ được gói gọn trong những hành vi cụ thể hay những cá nhân riêng rẽ. Nói chung, chúng bàng bạc trong những giá trị và cơ cấu của xã hội, trong những mẫu tương quan liên vị phức tạp, trong những thái độ và quan điểm của mỗi người thường bị giấu kín ngay cả với chính họ. Tất cả những điều trên đưa đến một cảm giác thiếu thực tế về bí tích hòa giải.
Tuy nhiên, cảm thức thiếu thực tế còn xuất phát từ một yếu tố khác. Xã hội hôm nay làm cho con người có khuynh hướng tránh gán cho mình những mặc cảm tội lỗi. Người ta nhạy cảm hơn đến thân phận hiện sinh của mình. Họ tránh kết án hoặc trừng phạt ngay cả những tội ác lớn lao, nhưng đòi có một sự chẩn đoán, điều trị. Họ cũng ý thức về ý nghĩa của những nhân tố di truyền và môi trường trong việc hình thành đời sống của con người, theo những mẫu thức có thể hoặc không thể chấp nhận được, tốt đẹp hay tàn khốc. Đồng thời, người ta cũng bắt đầu tiếp thu những định nghĩa minh nhiên hay mặc nhiên về tội, xoay quanh ý niệm trách nhiệm cá nhân và tự do chọn lựa. Tiếp cận vấn đề xưng tội cá nhân với khái niệm tội như thế và khái niệm bí tích như được phác họa trên kia quả là một vấn đề cho bất cứ ai có một ý thức tạm đủ về những sức mạnh chi phối và điều kiện hóa hành vi. Người ta dễ coi việc xưng tội là vô ích, vì cả hối nhân và vị giải tội, không ai đứng trong vị trí đưa ra những điểm mấu chốt sẽ giúp xác định chính xác đâu là tội và qua đó cung cấp chất liệu cho bí tích hòa giải. Bí tích hòa giải trở nên chuyện trẻ con, trống rỗng, tục hóa và hài hước.
Nhiều người công giáo không muốn rời bỏ truyền thống, tuy nhiên vẫn cảm nhận được cái cảm giác ấu trĩ và phàm tục này. Họ tiếp tục xưng tội trong một nỗi niềm tuyệt vọng thầm lặng, vì họ biết nó phải có một ý nghĩa nào đó dù họ không thấy. Hoặc họ xao nhãng dần, cho đến ngày nhận ra mình đã hoàn toàn không lý gì đến việc xưng tội, và cũng chẳng sẵn sàng trở lại thực hành trước kia.[7]
Những vấn đề trên đây có liên quan chặt chẽ với hiểu biết về vai trò trung gian của linh mục. Đa số người công giáo quen tin rằng linh mục là người được chọn để phân phát những ân huệ của Thiên Chúa và là đặc sứ của Thiên Chúa để phán xét hành vi của họ. Nếu tội được nhìn như việc phá vỡ các quy luật, linh mục không chỉ là thẩm phán chính thức để xét xử xem những quy định ấy bị vi phạm như thế nào song còn là người được chỉ định để ra việc đền bù và quy định những diều kiện kèm theo.
Một khi ý niệm duy lề luật về tội đã bị phá vỡ, nhiều vấn đề xuất hiện liên quan đến vai trò của linh mục. Khi gặp một vấn đề tâm linh, người ta thường tìm đến các chuyên gia để có những lời khuyên chính xác hơn. Khi người ta cảm thấy căng thẳng, thù hận, họ tìm đến các chuyên viên tâm lý. khi họ ý thức về chủ nghĩa phân biệt giới tính, chủng tộc, họ tìm đến các khóa huấn luyện chuyên biệt. Khi cảm thấy áp lực của bất công xã hội, họ tham gia những tổ chức, các buổi diễn thuyết để cùng nhau hành động. Căng thẳng trong gia đình thì họ đến với chuyên viên tư vấn về hôn nhân gia đình. Ngay cả khi người ta muốn tìm một sự hoán cải trong đời sống Kitô hữu, thì các nhóm cầu nguyện và học hỏi Kinh thánh hoặc các nhóm cộng đồng cơ bản xem ra hữu hiệu hơn. Ngoài ra, có những vấn đề liên quan đến hạn chế sinh sản cũng được người trẻ hôm nay tìm đến với những người cùng hoàn cảnh với mình, thay vì đến với tòa giải tội.
Trong khi xã hội ngày càng xuất hiện những chuyên viên trong từng lĩnh vực chuyên biệt, thì vai trò của linh mục cũng được đặt lại trong cái nhìn ấy. Người ta sống thực tế hơn, và trong quá trình tự gột bỏ những ý niệm đơn sơ về giáo lý, người ta đi đến một thái độ tự quyết nhiều hơn, và do đó nghi ngờ hoặc bớt tin tưởng vào sự cần thiết thực sự của vị trí trung gian là linh mục. Một giáo sư ở đại học Georgetown đã ghi nhận rằng, những hối nhân nào có một mức độ tự do lương tâm nhất định đều có thể có một băn khoăn nhất định về giá trị của lời xá giải trong tòa giải tội.[8] Ít nhất, họ có một cảm giác không thật, và họ cảm thấy thật nặng nề.
Thí dụ điển hình nhất là vấn đề luân lý của việc thực hành ngừa thai. Đây là vấn đề xung khắc giữa sự cân nhắc thành thực của đôi vợ chồng trong hoàn cảnh cụ thể và “bản án chính thức” của vị linh mục. Mâu thuẫn mau chóng trở nên tuyệt vọng vì những động cơ liên vị trong hôn nhân và từ nhận thức rằng bản án kia đã được đưa ra bởi những người không có kinh nghiệm trực tiếp nào về những năng động ấy, cũng như không phải đối diện với vấn đề của họ.[9] Người ta dễ đi đến chỗ oán hận Giáo Hội đã đẩy họ, những con người trưởng thành, về một tình trạng ấu trĩ thiếu vắng trách nhiệm cá nhân, và tạo cớ cho họ lìa xa Giáo Hội.[10]
Có những trường hợp may mắn hơn, khi người giáo dân có cơ hội chọn lựa cha giải tội, và chọn được vị mà họ tin tưởng đến xưng tội đều đặn. Đó là trường hợp những giáo dân sống gần các cộng đoàn đan tu hoặc những cộng đoàn tu trì đông đảo. Nhưng đó là một thiểu số những người trưởng thành, trí thức và rảnh rỗi. Họ cũng thường là những người độc thân, không mang gánh nặng gia đình và cuộc sống không có mấy những vấn đề như đã nêu trên. Còn đa số thì không có được chọn lựa này.
Tuy nhiên, trong số những người may mắn trên, cũng có một hiện tượng mới liên quan đến vai trò người trung gian. Một số người có khuynh hướng tìm sự hướng dẫn thiêng liêng nơi những nữ tu, những tu sĩ không phải là linh mục và cả những giáo dân có khả năng được họ tin tưởng. Nơi những người này, họ tìm thấy một vị trung gian tốt nhất cho sự hướng dẫn của Thánh Thần trong đời mình. Lối thực hành xưng tội với giáo dân như thế đã có một lịch sử đáng lưu ý trong Giáo Hội, và dần dần đã tự khẳng định giá trị của nó cùng với hình thức xưng tội với linh mục được giáo luật chuẩn nhận. Đến với những người không có chức thánh này, họ thường cởi mở lương tâm trọn vẹn, đó là một cuộc bày tỏ không chỉ tội lỗi của mình, song cả những cám dỗ, ham muốn và nghi nan của họ. Họ trình bày cách thức và kinh nghiệm cầu nguyện, hiểu biết của họ về những vấn đề luân lý và trách nhiệm bản thân, vân vân. Trong những trường hợp này, việc xưng thú không thể nói là không có một bí tích ở đây hiểu theo nghĩa rộng của từ. Nó đem đến hiệu quả ân sủng là sự ăn năn và hoán cải liên tục, nhờ trung gian liên kết hối nhân với con người và hành vị của Đức Giêsu, đấng đã ủy thác cho những môn đệ Người bổn phận giúp đỡ nhau trong việc hòa giải và sám hối. Vấn đề đặt ra ở đây là tương quan giữa hai loại bí tích này.
Lĩnh vực thứ ba trong những vấn đề hiện nay liên quan đến chính nghi thức hòa giải, cả về lý thuyết lẫn thực hành. Thường nghe nhiều nhất là thắc mắc tại sao phải xưng tội cá nhân mới được xá giải, trong khi đã có ba loại nghi thức xá giải được chính thức thừa nhận. Vấn đề được đặt ra, vì trong nghi thức mới, không chỉ bao gồm việc cử hành cộng đồng trong đó việc xưng tội cá nhân được đưa vào đầu tiên, ngoài việc xưng tội cá nhân truyền thống ra, còn có cả một nghi thức xá giải cộng đồng không có việc xưng tội cá nhân, được coi là nghi thức thông thường và trọng thể, dù được giới hạn cho “những trường hợp được quy định trong giáo luật”. Tìm hiểu thêm vấn đề sẽ thấy nghi thức thứ ba này không thông thường chút nào. Nhưng sự có mặt của nghi thức thứ ba này đặt vấn đề cho nhiều người công giáo về tính cần thiết của việc xưng tội riêng. Cuối cùng thì các vấn đề tồn tại từ lâu về bí tích này như chất liệu, tương quan của các thành phần nghi thức, v.v., vẫn còn đó trong khúc mắc của nhiều người.
Tuy nhiên, một điều đáng phấn khởi là nhận thức người giáo dân ngày nay đã trưởng thành hơn. Họ không hài lòng với những hình thức được quy định, và có thể bỏ không thực hành việc xưng tội, nhưng đời sống kết hiệp với Chúa của họ càng mạnh mẽ hơn, và họ vẫn sống ơn thúc đẩy của Thánh Linh một cách quảng đại và anh hùng. Hai điều như trái ngược ấy nói lên bản chất của cuộc khủng hoảng ngày nay, một thứ khủng hoảng chứa đựng mầm mống hy vọng của một cuộc canh tân triệt để.
Về phía các linh mục cũng có vấn đề. Có thể đồng ý với Regis A. Duffy rằng ảnh hưởng của thần học trước Vatican II vẫn còn rất lớn trong Giáo Hội[11]. Điều này không chỉ tồn tại trong giáo dân nhưng cả nơi hàng ngũ linh mục, những con người chưa tiếp nhận được luồng gió thần học mới . Thói quen suy nghĩ và nhận định cũ nặng mùi pháp lý vẫn còn nhiều. Trong hoàn cảnh thiếu phương tiện học hỏi, thiếu thời giờ và nhân sự, các linh mục thường thiếu quan tâm đến việc tự trang bị cho mình một khả năng để hiểu, sống và dạy cho giáo dân về bản chất đích thực của bí tích này. Như trên đã nói, K. Rahner cũng nhận xét rằng thần học chưa đi vào trong đời sống mục vụ được, và Giáo Hội cũng tỏ ra trì hoãn trong việc thích ứng này. Hậu quả là có sự thiếu nhất quán trong quan điểm giải tội, và số linh mục còn bám vào cách thức suy nghĩ cũ vẫn không phải là ít. Có thể đi về các giáo xứ có các linh mục cao tuổi hoặc ít học để thấy được điều này.[12]
Nhưng vấn đề có thể không dừng ở chỗ đó. Ngay chính giáo lý về tội cũng được hiểu và trình bày với một cách thức còn nhiều khiếm khuyết. Với trình độ các giáo lý viên hiện nay, mà nhiều người chỉ học qua loa và phần nhiều tham gia công việc dạy giáo lý vì lòng nhiệt thành, nền tảng giáo lý ấy còn rất sơ sài, và như thế làm cho những ngộ nhận tiếp tục lưu truyền trong Giáo Hội nếu không có một công cuộc chỉnh sửa toàn diện.
Khoa học và xã hội hiện đại đặt ra những vấn nạn nghiêm túc cho giáo lý truyền thống về nội dung và phương pháp dạy giáo lý. Ngày nay người ta khó chấp nhận tội tổ tông như được cắt nghĩa sơ sài như được lưu truyền từ một ông tổ Ađam. Cũng thế, nhiều điều được coi là tội trong quá khứ đã được đem ra dưới ánh sáng của khoa học xã hội và tâm lý, cho thấy con người không hoàn toàn tự do trong mọi hoàn cảnh được coi là phạm tội. Nhưng những điều này không được trình bày một cách thỏa đáng, và hậu quả là để cho những mặc cảm vô ích tồn tại trong lòng người tín hữu. Đến khi họ hiểu ra thì xuất hiện sự nghi ngờ chính tính chất tha tội của bí tích giải tội. Trên đây chỉ là một thí dụ điển hình cho thấy sự thiếu sót của khoa giáo lý. còn có những vấn đề sâu xa hơn trong chính cách nhìn thần học về tội mà, vì lý do khuôn khổ của bài viết, không thể nêu ra và bàn luận ở đây. Nhưng ở đây chỉ muốn nói rằng, để thay đổi hiện trạng khủng hoảng hiện nay, không chỉ nhìn vào các linh mục và hối nhân để tìm ra cách vượt qua, nhưng còn cần đào sâu vào giáo lý truyền thống để nắm bắt nội dung Tin mừng và trình bày với một nhận thức và ngôn ngữ phù hợp với thời đại mới.
Như vậy, qua việc phân tích nguyên nhân của những khủng hoảng nói trên nơi từng lớp người trong Giáo Hội, có thể đưa ra những nhận xét cơ bản sau:
1. Khủng hoảng xảy ra trong giáo dân tùy theo nhận thức của từng người, nhưng có một nét chung là không còn tin tưởng vào hiệu quả của bí tích hòa giải, ít là trong cách thức cử hành hiện nay.
2. Những xáo trộn xảy ra không chỉ trong nhận thức về chính bí tích hay nghi thức mà thôi, song có căn nguyên sâu xa trong nền tảng luân lý của người tin.
3. Nguyên nhân của khủng hoảng là công cuộc canh tân chưa thực sự đi vào tâm thức của người tín hữu lẫn nhiều vị chủ chăn. Sự thiếu hiểu biết về những điểm canh tân trong nghi thức, cũng như ý nghĩa của các thực tại đằng sau nghi thức ấy, dẫn đến việc đánh mất cảm thức về tình yêu Thiên Chúa, cảm thấy sự lạc hậu trong hiểu biết về tội trước những khám phá mới về những vấn đề trong xã hội cũng là những nguyên nhân gây xáo trộn. Nơi các vị chủ chăn, thiếu một sự huấn luyện đủ để nhận thức đúng ý nghĩa và yêu cầu của việc cử hành nghi thức giải tội.
4. Công cuộc canh tân nghi thức hòa giải chưa đáp ứng hết sự chờ đợi của người giáo dân. Cần phải đầu tư hơn nữa vào chiều sâu luân lý, để có thể tìm một cách thức trình bày mới về bí tích này.
Từ những phân tích trên đây, có thể thấy rằng những điểu cần phải canh tân không chỉ nằm trong việc đổi mới nghi thức, song còn cả trong nhận thức của người tín hữu. Thần học phải đưa đến một cái nhìn sáng sủa hơn về ơn cứu độ, và cho thấy được sự liên quan của ơn hòa giải với đời sống hiện sinh của con người, tức là sự hòa giải toàn diện với Thiên Chúa, với đồng loại và chính mình. Phần típ theo sẽ đi vào chi tiết những điểm cần thiết phải làm nổi bật, để đem lại một bộ mặt mới cho bí tích này.
Bí tích hòa giải là một nghi thức của cộng đồng Kitô hữu, dưới sự chủ tọa của giám mục hay linh mục, trong đó tội nhân được giao hòa với Thiên Chúa và Giáo Hội. Sự hòa giải hầu như được gặp thấy trên từng trang Tân Ước; đó là một phần thiết yếu của sứ điệp Tin Mừng. Đức Giêsu đã rao giảng sứ điệp giao hòa bằng những dụ ngôn và các việc chữa bệnh... Cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài đều làthành phần của một mặc khải lớn: tin mừng về ơn giao hòa của Thiên Chúa. Cuộc sống các môn đệ của Đức Giêsu chủ yếu cũng là lo tác vụ giao hòa. Tuy nhiên, qua dòng lịch sử, Giáo Hội đã dần dần phát triển một nghi thức giao hòa được gọi là bí tích. Ba đoạn Tân Ước được coi là nền tảng của phụng vụ bí tích này là Mt 16,19; 18,18 và Ga 20,23. Tuy nhiên, theo đa số các học giả ngày nay, người ta không tìm thấy trong những bản văn này hay trong văn cảnh của chúng một trình thuật về việc thiết lập một nghi thức dành cho việc hòa giải. Thay vào đó, những đoạn văn này nói đến một quyền năng hiện diện trong Giáo Hội phổ quát, nhằm cô lập và tiêu diệt tội lỗi. Tội có thể được xóa bỏ bằng mọi lời cầu nguyện, bằng việc ăn chay, làm việc bác ái và mọi việc lành, hoặc bởi bất kỳ bí tích nào, đặc biệt là bí tích Thánh Thể.
Trong Giáo Hội thời kỳ đầu, người ta không tìm thấy một ghi nhận nào về một nghi thức hòa giải cho đến năm 150. Bằng chứng đầu tiên này được Hermas, một giáo dân, ghi lại. Bản văn mang nhiều tính huyền bí của ông nói về một nghi thức hòa giải vào ngày sabbath.[13] Ông cho thấy rằng một Kitô hữu tội nhân chỉ được nhận lãnh nghi thức hòa giải này một lần duy nhất trong đời, và đó là nghi thức công khai. Ông không mô tả nghi thức ấy như thế nào. Tuy nhiên, trong cả hai Giáo Hội Đông và Tây, nó mau chóng trở thành nghi lễ chính thức: một nghi thức công khai, tức là có cộng đoàn tham dự, và chỉ được lãnh nhận một lần. Nếu một Kitô hữu phạm tội trọng lần thứ hai, cộng đoàn sẽ cầu nguyện cho người ấy vào lúc hấp hối, nhưng người ấy sẽ không được lãnh nhận các bí tích hòa giải, Xức dầu và Thánh Thể. Những tội danh thường được kể ra đòi hỏi hình thức hòa giải thứ hai này là bội giáo, giết người và ngoại tình. Còn những tội danh khác thì khác nhau tùy vùng.
Nghi thức này kéo dài có khi tới ba năm. Còn với tội giết người, một số Giáo Hội địa phương còn kéo dài tới mười lăm năm, và tiến trình hòa giải cũng không thống nhất trong cả Giáo Hội; mỗi Giáo Hội địa phương thường có những nghi lễ riêng. Điểm chung của mọi nghi thức này là phần kết thúc, trong đó Giám mục hay linh mục thinh lặng đặt tay trên hối nhân. Sau đó, hối nhân có thể dự Thánh lễ với cộng đoàn. Trong Giáo Hội phương Tây còn thêm một hình phạt: người lãnh bí tích này phải tiết dục suốt đời. Nhưng điều này làm cho nhiều cuộc hôn nhân tan vỡ, và quy luật tiết dục bị nhiều cộng đồng Kitô hữu phản đối. Với giáo dân, bí tích hòa giải trở nên đáng sợ, và từ năm 700 trở đi, người ta cố tình trì hoãn việc lĩnh nhận bí tích này, đến nỗi nó dần dần được coi là bí tích dành cho người hấp hối. Các giám mục tiếp tục hối thúc các bổn đạo lãnh nhận bí tích này, song người ta tiếp tục lờ đi.
Theo những bằng chứng lịch sử được ghi nhận, ở Anh Quốc và Ailen, nghi thức hòa giải công khai như trên chưa từng được áp dụng. Các tu sĩ vùng Ailen đã phát triển một hình thức linh hướng đặc thù, trong đó các tu sĩ bày tỏ những lỗi lầm của mình với các đan viện phụ. Người ta chưa rõ hình thức linh hướng này đề cập đến tội và việc đền tội như thế nào. Khi họ đến châu Âu vào nửa sau thế kỷ thứ sáu, hình thức xưng tội cá nhân và thường xuyên này dần dần được xem là nghi thức bí tích thông thường ở châu Âu.
Cách thực hành xưng tội cá nhân và lặp lại như thế đi ngược với thực hành của Rôma. Tuy nhiên, nó lại nhanh chóng phổ biến và thay thế hẳn cho cách xưng tội công khai giữa cộng đoàn. Năm 1215, tại công đồng Latran IV, giáo quyền đã chính thức chuẩn nhận hình thức này. Chỉ trong các Giáo Hội Đông phương còn tồn tại hình thức giải tội công khai cho đến hôm nay. Thế kỷ XII và XIII, các thần học gia trường phái kinh viện đưa ra nền tảng thần học cho hình thức xưng tội cá nhân, trình bày theo một tiến trình gồm có thống hối, xưng thú, giải tội và đền tội. tiến trình này dần dần trở thành mô thức thần học được Giáo Hội Công giáo nhìn nhận là tiêu chuẩn, mãi cho đến cuộc canh tân bí tích hậu công đồngVatican II.
Phong trào Cải cách do Martin Luther và John Calvin khởi xướng tố cáo Giáo Hội Rôma coi trọng các việc công đức hơn ơn Chúa. Điển hình là cách thực hành bí tích hòa giải trong Giáo Hội Công giáo. Những điểm bị tố cáo gồm có việc xưng thú chi tiết các tội lỗi, sự cần thiết phải ăn năn tội cách trọn, khái niệm ex opere operato áp dụng cho lời xá giải của linh mục, và những hình phạt áp đặt trên hối nhân. Đối với họ, hình thức này phủ nhận sự cần thiết của ơn Chúa, và việc đền tội chỉ bằng một số việc lành là đủ. Bên Tin lành cũng tố cáo hàng lãnh đạo Giáo Hội Công giáo đã nghĩ ra bí tích này để áp đặt trên các bổn đạo, vì không như phép Rửa tội và Thánh thể, bí tích này dường như không có nền tảng Kinh Thánh.
Các nghị phụ công đồng Trentô, phản ứng với những lời tố cáo của anh em Tin lành, đã khẳng định các giám mục có quyền ấn định hình thức của những nghi thức cử hành bí tích. Các vị cũng khẳng định rằng bí tích giải tội có nền tảng Kinh Thánh, dù đồng ý rằng nghi thức này không được chỉ định rõ rệt trong Kinh Thánh như hai bí tích trên. Các nghị phụ cũng cố gắng trình bày bí tích giải tội cho phù hợp với giáo lý về tình nhưng không tuyệt đối của ân sủng. Tuy nhiên, hai vấn đề ân sủng và việc đền tội lại được thảo luận riêng rẽ: tuyên ngôn về ơn công chính hóa được ban hành năm 1547; còn tuyên ngôn về bí tích giải tội được đưa ra năm 1551. Công đồng không tìm cách dung hợp hai tuyên ngôn này lại với nhau. dù sao, công đồng cũng chính thức dạy rằng ân sủng của Thiên Chúa hoàn toàn nhưng không, và chúng ta không làm được gì để đáng lãnh nhận ơn ấy. Các nghị phụ cũng dạy rằng các việc lành, bao gồm hành vi thống hối, xưng tội, lời xá giải của linh mục và việc đền tội sau đó, tất cả phải được giải thích trong cái khung của tuyên ngôn về ơn công chính hóa.
Sau công đồng, cách hiểu kinh viện về bí tích hòa giải trở nên phổ biến hơn cách hiểu của các giáo phụ, và việc xưng tội thường xuyên được khuyến khích.
Vào thế kỷ XX, lịch sử của bí tích hòa giải được nghiên cứu lại cách sâu hơn. Đặc biệt chú trọng là hiểu biết phong phú của các giáo phụ. Với những nghiên cứu này, một phong trào canh tân mục vụ bí tích hòa giải đã bắt đầu. Một số hình thức phụng vụ bí tích mới được đề nghị, trong đó có việc ban phép hòa giải tập thể. Công cuộc canh tân này xảy ra đồng thời với việc thần học bí tích đặt lại suy tư của mình. Thần học nhìn nhận Đức Giêsu trong nhân tính của Ngài là bí tích nguyên thủy, và Giáo Hội là bí tích cơ bản. Công đồng Vatican II đã yêu cầu soạn thảo một nghi thức mới, và năm 1973, nghi thức mới đã được ban hành.
Nghi thức mới này dựa trên những tiêu chuẩn được nêu trong Hiến chế về Phụng Vụ Thánh:
i. Nghi thức phải diễn tả được rõ ràng bản chất và hiệu quả của bí tích (SC 21);
ii. Vai trò của cộng đoàn Hội Thánh phải được đề cao (SC 14);
iii. Việc công bố Lời Chúa phải là trung tâm nghi thức (SC 24);
iv. Vì phụng vụ bí tích không phải là hoạt động riêng tư, nhưng là cuộc cử hành của cả Giáo Hội (SC 26), nên một hình thức thờ phượng chung phải bao trùm trên hành vi cá nhân (SC 27);
v. Nghi thức phải ngắn gọn và rõ ràng, tránh những lặp đi lặp lại vô ích, thích ứng với tầm lĩnh hội của các tín hữu, tức là không cần nhiều lời giải thích (SC 34).
Nghi thức mới bao gồm bốn hình thức khác nhau:
1. Nghi thức cá nhân;
2. Nghi thức tập thể có xưng tội và giải tội cá nhân;
3. Nghi thức tập thể, xưng tội cá nhân và giải tội chung;
4. Dạng rút gọn, được dùng trong trường hợp cấp thiết và nguy tử, gồm có xưng tội và giải tội chung.
Nền tảng thần học của bốn dạng nghi thức này có hai mặt chính: tội là sự xúc phạm đến Thiên Chúa và cộng đoàn; và vì thế, hòa giải là hòa giải với Thiên Chúa và với cộng đoàn. Bằng cách suy tư trên đây, bản chất xã hội của tội và nghi thức hòa giải được chính thức nhấn mạnh. Ngoại trừ hình thức khẩn cấp thứ tư, ba hình thức phụng vụ đầu được trình bày bằng một cách thức mà không một hình thức nào mang tính chuẩn tắc đối với những hình thức còn lại. Theo tinh thần của Hiến chế Phụng vụ thánh, hình thức được ưu tiên hơn phải mang tính cộng đồng. Sâu xa hơn, việc cầu nguyện được nhấn mạnh trong những nghi thức này. Tất cả thường bao gồm một lời nguyện khai mạc, việc công bố Lời Chúa, suy niệm Lời Chúa, xét mình, một lời cầu nguyện tha tội, tiếp theo là một lời nguyện tạ ơn, chúc lành và chòa giải tán, tất cả trong bầu khí cầu nguyện. Đúng là khi nào phụng vụ bí tích hòa giải trở thành thời điểm của cầu nguyện cộng đoàn thì khi đó nghi thức đã thực sự được canh tân.
Trong phần giới thiệu nghi thức mới, có thể thấy được một cái nhìn tổng quan về thần học làm nền tảng cho nghi thức được trình bày. Thần học ấy khởi đi từ bản thân Đức Giêsu là chính sự hòa giải, cả trong sứ điệp và cuộc sống, cái chết và sự Phục sinh của Ngài. Như vậy, thần học mới nhìn nhận Đức Giêsu là bí tích Hòa giải nguyên thủy. Bản văn tiếp nối bằng việc trình bày Giáo Hội như là bí tích cơ bản, cho thấy sự hòa giải hiện diện trong mọi hành vi của Giáo Hội. Chỉ khi đó, bản văn mới nói tới phụng vụ bí tích hòa giải. Điều đó cho thấy, nghi thức mới phải được hiểu trong bối cảnh là chính Đức Giêsu như bí tích hòa giải nền tảng và Giáo Hội là bí tích cơ bản.
Qua phần trình bày tổng quát trên đây, có thể nhận thấy bí tích hòa giải đã trải qua những biến đổi quan trọng về nhận thức và cách thức cử hành. Dưới sự hướng dẫn của công đồng Vatican II, bí tích hòa giải đang trên đường đi tìm một cách diễn tả mới gần gũi hơn với nhận thức của con người hôm nay. Nhưngcũng có thể nhận thấy là những sửa đổi ấy còn chưa đi sâu được vào tâm thức của người tín hữu ngày hôm nay, và những băn khoăn vẫn còn đó. Vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết qua bốn hình thức giải tội trên. Thần học vẫn còn phải tìm kiếm nhiều để có thể hiểu và trình bày bí tích hòa giải và tác động của ân sủng dưới một cái nhìn hiện sinh hơn nữa. Và điều cấp thiết là phải hiểu được thân phận của con người trong hoàn cảnh tội lỗi như thế nào để có thể ban bí tích hòa giải đúng với nhu cầu và chờ đợi của họ.
Phần này sẽ trình bày vắn tắt những điểm chính trong thần học bí tích nói chung. Những suy tư sau công đồng về bản chất bí tích đã tìm lại những ý nghĩa đã bị che khuất trong truyền thống thần học Kitô giáo, nhưng có ý nghĩa thiết yếu trong bối cảnh hiện nay.
Với nhiều Kitô hữu, bí tích để chỉ một số nghi thức đặc thù (rửa tội, Thánh Thể, v.v.) của tôn giáo. Quả thực, phụng vụ bí tích đã trở thành cột mốc đánh dấu những chặng đường của đời sống tôn giáo của nhiều người. Nhưng những bí tích ấy, rất phong phú về tính biểu tượng, được sống bởi nhiều người, lại được hiểu và cắt nghĩa tương đối mơ hồ và không đầy đủ. Do vậy, việc sống bí tích trong thực tế gặp nhiều khiếm khuyết, và ý nghĩa của phụng vụ bí tích không được nắm bắt một cách phong phú như mong muốn.
Từ nguyên thủy, từ ngữ bí tích có mang ý nghĩa mầu nhiệm (mysterion), tức là cử hành các bí tích là cử hành những mầu nhiệm đã được bày tỏ trong cái chết và sống lại của Đức Giêsu. Bí tích mang con người vào một thực tại vượt quá chiều kích vật chất của con người.
Nhưng rõ ràng là qua các thế kỷ, Giáo Hội đã ý thức về chiều kích vị nhân sinh của con người[14]. Trong khi việc cử hành bí tích trước hết là nhằm tôn kính và nhìn nhận Thiên Chúa, chúng cũng nhằm một lợi ích nào đó cho con người. Nhận thức này là lý do căn bản của các hình thức phụng vụ bí tích. Trải qua thời gian, nhận thức ấy đi đến chỗ tin rằng ơn cứu độ được ban cho con người qua các bí tích, rằng các bí tích thực sự “ban” ơn. Bí tích dần dần mang hình thức ma thuật: người ta không cần hiểu ý nghĩa của chúng, mà chỉ cần tham dự và thực hiện những gì nghi thức ấy đòi hỏi là xong. Ý nghĩa của cụm từ ex opere operato bị lạm dụng, và phụng vụ bí tích trở nên nghèo nàn, bí nhiệm. Bí tích được hiểu là có hiệu quả tức thì, chỉ cần lãnh nhận là được ban ơn. Ý nghĩa này trở nên mạnh mẽ, lấn lướt cả những lời khuyên bảo về thái độ cần có trong khi tham dự.
Đằng khác, ân sủng được giải thích là hoạt động vô hình của Thiên Chúa, nên việc lĩnh nhận ân sủng qua bí tích được hiểu một cách mặc nhiên, không cần kiểm chứng. Cụm từ “tham dự bí tích” hay “cử hành bí tích” không có trong ý niệm của Kitô hữu. Thay vào đó, người ta quen nói “chịu các phép” hơn, và điều đó diễn tả thái độ thụ động của người nhận.
Tuy nhiên, ngày nay tình hình có thay đổi nhiều. Người ta muốn tôn giáo có được tính chất gần gũi và cụ thể hơn, thiết thực hơn với đời sống con người của họ, có ảnh hưởng rõ ràng trong những cố gắng đời thường của họ. Khi con người hôm nay khám phá giá trị của mình cũng như những tương quan với vũ trụ xung quanh, họ cũng muốn nhìn thấy ý nghĩa của tất cả những gì họ thực hành trong một chiều hướng làm nên cuộc sống của họ. Với họ, ân sủng được hiểu là được sống một cách sáng tạo hơn là được lĩnh nhận một cách thụ động[15].
Ngày nay, người ta chú ý nhiều hơn đến sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống của con người. Không chỉ là một sự ý thức hơn đến sức mạnh sáng tạo của Thiên Chúa trong vũ trụ và cách riêng trong đời sống con người, đây còn là một sự bừng tỉnh trong kinh nghiệm về chiều kích nhân vị của đức tin Kitô giáo, cho đến mức nhận ra tình bạn là một đặc ân lớn trong việc Thiên Chúa tự thông ban cho con người.
Tất cả những điều này đều đụng chạm đến suy nghĩ của con người về bí tích. Người ta thay đổi thái độ về bí tích cũng như những chờ đợi của họ với việc tham dự bí tích này. Nó có đem lại hiệu quả thực nào trong đời sống của họ không? Nó có ảnh hưởng nào đến cuộc sống họ và tương quan mật thiết giữa họ với Thiên Chúa không? Nếu biết rằng hiệu quả của bí tích sẽ tùy thuộc vào thái độ của họ khi tham gia vào nghi thức, thì sức mạnh nội tại của bí tích ấy được thể hiện như thế nào?
Thần học bí tích đã cố gắng tìm kiếm câu trả lời cho những vấn nạn ấy. Vấn đề được trả lời dựa trên quả quyết căn bản: sacramenta pro populo – bí tích hiện diện là vì con người. Bí tích là những phương thế nhằm biến đổi đời sống con người và giúp họ hoàn thành phận người một cách hiệu quả hơn. Kitô hữu tin vào Đức Giêsu người Nazareth, một con người hoàn hảo và là lý tưởng cao nhất của con người trước Thiên Chúa. Niềm tin Kitô giáo nhằm đưa con người đến một lối sống mới, nương theo hình ảnh của Đức Giêsu. Niềm tin ấy không chỉ là một phần thêm vào cuộc sống của con người, nó phải thấm nhuần và bao trùm toàn thể con người cùng các hoạt động của họ. Các bí tích, nếu được cử hành và tham dự, cũng phải mang đến và trợ giúp cho sự biến đổi nhắm đến đời sống ấy.
Như trong phần suy tư nhân học đã trình bày, kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành một con người. Bí tích cũng không nằm ngoại lệ, nếu muốn trở thành yếu tố xây dựng nên đời sống con người. Bí tích phải trở thành một kinh nghiệm, một biểu tượng được con người đón nhận, cho nó một ý nghĩa và có một vai trò trong nhãn quan của con người về nhiệm cục cứu độ.
Con người có khả năng giải thích kinh nghiệm của mình. Và điều đó phụ thuộc vào tâm trạng của từng người. Các kinh nghiệm có thể trôi tuột khỏi ký ức chẳng để lại ấn tượng nào, nhưng cũng có thể khắc sâu thành một dấu ấn vĩnh viễn trong tâm hồn. Khả năng ấy làm cho đời sống thiêng liêng của mỗi người có được sự phong phú khác nhau. Bí tích có sinh được hiệu quả hay không là tùy thuộc vào việc nó được đón nhận như thế nào.
Một khía cạnh của phận người được diễn tả trong lời của thánh Âu-tinh: “Chúa đã dựng nên con cho chính Chúa, và lòng con vẫn chưa yên, cho đến khi nào được nghỉ yên trong Chúa[16].” Có lẽ phần hai của câu này vẫn đúng cho dù người ta có tin vào Thiên Chúa hay không. Elisabeth Johnson viết rằng “tâm hồn con người không ngừng khao khát sự thật, khao khát tình yêu và sự sống.”[17] Trong niềm tin Kitô giáo, rõ ràng cơn khát ấy chỉ có thể được thỏa mãn nhờ Thánh Thần. Và cách thức duy nhất để con người có thể gặp gỡ Thiên Chúa là qua sáng kiến của Thiên Chúa và những trung gian mà con người có thể hiểu được, tức là các bí tích. Đức Giêsu vẫn còn hiện diện và hành động nơi giữa lòng nhân loại qua các bí tích. Do đó, bí tích càng phải trở nên một dấu chỉ dễ hiểu và dễ cảm nhận, đồng thời biểu lộ được hoạt động cứu độ của Đức Giêsu cho con người tâm lãnh.
Biểu tượng có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Con người cần đến các biểu tượng để có thể hiểu và thông truyền cho nhau về chính mình. Giải thích biểu tượng là một vấn đề văn hóa và có tính quy ước. Khi con người nắm được ý nghĩa của các biểu tượng, họ có thể nhìn thấy thực tại đằng sau mà biểu tượng ấy đại diện. Hiểu sai ý nghĩa của biểu tượng sẽ làm cho việc thông truyền tư tưởng bị sai lệch, con người không thể hiểu nhau được. Nhờ những biểu tượng và nghi thức, con người có thể họp lại với nhau, cùng chia sẻ một tư tưởng và cùng diễn tả một xác tín chung. Do vậy, điều quan trọng đối với một cộng đoàn là sự thống nhất về ý nghĩa của các biểu tượng và nghi thức.
Một giá trị khác của biểu tượng là làm phong phú kinh nghiệm sống của con người. Trong một đoạn rất nổi tiếng của tiểu thuyết Le Petit Prince, Saint Exupery đã viết rằng “nghi thức là cái làm cho ngày hôm nay khác với ngày hôm qua”. Quả thật, đời sống con người là một chuỗi ngày bất tận, tưởng chừng như giống nhau. Chính biểu tượng đã làm cho một biến cố, một sự vật trở nên có giá trị độc đáo, vì nó nhắc nhớ một thực tại sâu xa hơn.
Bí tích là những biểu tượng, những dấu chỉ về thực tại Thiên Chúa đã được thể hiện nơi Đức Giêsu người Nazareth. Bí tích cần được cử hành qua những nghi thức, phải được hiểu và giải thích một cách thống nhất, hy vọng nhờ đó thông truyền cái ý nghĩa và giá trị mà đấng tác thành nên nó muốn nói lên. Một nguyên nhân của khủng hoảng bí tích như đã trình bày ở trên, là sự thiếu hiểu biết hoặc khả năng giải thích các bí tích. Do vậy, nghi thức có vai trò quan trọng, và cần phải rõ ràng cũng như phù hợp với khả năng đón nhận của con người để diễn đạt được hiệu quả của mình.
Trên đây là vài hướng tìm tòi mới của thần học bí tích hiện nay. Không phủ nhận những đạo lý truyền thống về bí tích, nhưng có thể thấy rằng sự chú trọng nhiều hơn đến giá trị của con người được đề cao qua việc giải thích kinh nghiệm bí tích một cách hướng nhân hơn. Tất cả những lưu ý này đều có giá trị cho bí tích hòa giải sẽ được trình bày trong phần sau.
Không cần bàn về nguồn gốc và ý nghĩa của những nghi thức trong bí tích hòa giải[18]. Ở đây, chúng ta chỉ quan tâm đến việc Giáo Hội hiểu về ơn tha thứ qua bí tích này như thế nào. Theo nghĩa hẹp, người ta nhận thấy một thần học về bí tích hòa giải chỉ xuất hiện từ thế kỷ XII. Tuy nhiên, ngay từ những ngày đầu của Kitô giáo, đã bắt đầu lịch sử của những suy tư về ơn cứu độ, chữa lành của Thiên Chúa nhân từ, cũng như cách thức hoạt động của ơn tha thứ ấy trong Giáo Hội. Nhìn vào lịch sử ấy, có thể nhận thấy tác động qua lại giữa việc thi hành quyền tha tội trong Giáo Hội và hiểu biết về sự tha thứ của Thiên Chúa, mà mỗi thành phần này ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau.
Ở bình diện thực hành căn bản nhất, có thể nói đó là cái chết của Đức Giêsu, cái chết tha thứ đã đi trước cả sự xuất hiện Kitô giáo. Còn trên bình diện lý thuyết, đó là nhận thức về sự chết của Đức Giêsu mà chính Ngài đã dạy cho các môn đệ đầu tiên qua việc lập phép Thánh Thể. Giáo hội tiên khởi đã nhận ra rằng Đức Giêsu, sau khi nhận ra thánh ý Chúa Cha trong cơn hấp hối, đã tự ý phó mình chịu một cái chết nhục nhằn, kinh khủng vì họ. Họ cũng hiểu rằng Ngài làm thế vì đã nhìn thấy đó là con đường để giải thoát họ khỏi ách nô lệ của tội lỗi; và Ngài kêu gọi họ cũng làm thế vì nhau. Đó là sự thúc đẩy được nhận ra qua việc Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ, cùng với những lời kêu gọi đi theo Ngài qua việc vác lấy thập giá của mình, cùng với những huấn thị khi có ai đó tranh luận về chỗ lớn hơn trong Nước Thiên Chúa. Con đường hành động của Ngài đã được trình bày trong Bài Giảng trên núi, và được giải thích nơi diễn từ trong bữa Tiệc ly một cách không thể lầm lẫn được.
Một điều chưa được nói rõ ràng là tại sao cái chết của Đức Giêsu trên thập giá lại có thể cứu con người khỏi tội lỗi. Có lẽ lý do của sự mơ hồ này là: thực hành thì tốt hơn ngồi tranh luận, và thông cảm thì tốt hơn là hiểu biết. Ngài muốn các môn đệ thực hành như Ngài, để cảm nhận đích thân điều Ngài muốn nói. Có thể thấy trong các Tin Mừng, mối quan tâm chính là trình bày quan hệ của Đức Giêsu với những người bị áp bức, khinh khi, những người tội lỗi, bị chà đạp dưới ách của quyền lực, những người đang mang nặng nỗi lo, và cả với những người ác độc, giả hình... Tân Ước chỉ khẳng định niềm tin vào ơn cứu độ nơi cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, chứ không giải thích. Có lẽ phải đi vào cái chết như Đức Giêsu thì mới hiểu được ơn cứu độ ấy hoạt động thế nào. Và bởi vì việc tìm hiểu những gì được trình bày trong Tin Mừng hoàn toàn tùy thuộc vào sự cộng tác của con người, tùy thuộc vào khả năng mở ra để đồng cảm với những nhân vật trong câu chuyện, và với những đau khổ trong đời sống hằng ngày, mà trong dòng lịch sử Giáo Hội đã có nhiều cách thức khác nhau nhằm giải thích hiệu quả của ơn cứu độ.
Tuy nhiên, các Tin mừng, sách Tông đồ công vụ, các thư của thánh Phao-lô và Gioan cho chúng ta những chỉ dẫn rất quan trọng để hiểu được nhận thức của cộng đoàn tiên khởi. Tình yêu Thiên Chúa và lòng yêu thương đồng loại phổ quát không thể tách rời nhau được. Trở về cùng Thiên Chúa là trở về với cộng đoàn, điều này là thiết yếu chứ không phải tùy ý. Đó là sự trở về với bình diện của sự thông cảm và đồng hóa với người khác, là hiện diện trong suốt với họ, là chia sẻ mọi thứ mình có, và cuối cùng, là trở nên nô lệ cho họ, đến độ chết cho mình để chỉ sống cho người khác, thậm chí hy sinh mạng sống một cách hết sức đau thương.
Có lẽ chính nhận thức này đã làm cho đời sống chung trong những cộng đoàn tiên khởi rất mực thắm thiết, như đã được ghi lại trong sách Công vụ. Nhưng rõ ràng là tất cả cái nhìn cũng như sự dấn thân theo đường Giêsu của họ đều được đặt trong bối cảnh một lịch sử tội lỗi trong đó họ đã bị tổn thương và vật vã. Đấy không phải là việc từ bỏ dứt khoát một lần đường lối của dân ngoại để được chịu phép Rửa trong cái chết của Đức Kitô và đi vào đời sống mới. Nó mang ý nghĩa của cả một cuộc đời với những đấu tranh hằng ngày, chống lại những lôi kéo của những giá trị và những nhu cầu giả tạo, những cố gắng tiến thân bất chấp số phận của người khác. Nó ngụ ý việc vượt qua những thất bại hằng ngày, và nhắm tới việc tha thứ liên lỉ. Ý thức ấy là trung tâm của việc đọc kinh Lạy Cha như dấu chỉ của việc tha thứ và hòa giải mỗi ngày với Thiên Chúa trong cộng đoàn Giáo Hội. Cũng thế, nỗ lực hằng ngày ấy làm cho Thánh Lễ trở nên đỉnh cao của đời sống Kitô hữu, là dấu chỉ của hoa trái cái chết của Đức Giêsu trong việc tiếp tục hoán cải những chi thể của Người trên thế giới, một sự hoán cải trong đó không còn phải là họ sống, nhưng là Đức Kitô sống trong họ. Họ không còn sống cho chính mình nữa, mà chỉ sống cho Người và cho mọi người.
Chính trong bối cảnh ấy, dù rằng theo thời gian mất dần sự mãnh liệt, các Kitô hữu phải giải quyết vấn đề những xì-căng-đan nghiêm trọng. Họ giải quyết bằng việc quyết định rằng cần phải hòa giải với những người ấy, vì Đức Giêsu đã chết một lần cho tất cả mọi người, ngay cả khi họ vẫn còn là tội nhân và “kẻ thù” của Thiên Chúa. Trong bối cảnh ấy, họ hình thành trong cộng đoàn việc tái hội nhập dần dần cho những người sa ngã. Cũng trong bối cảnh ấy, người ta thấy có sự khác biệt về lý thuyết giữa quy luật nghiêm khắc của Giáo Hội là chỉ được tha một lần và lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa (bảy mươi lần bảy) dành cho những người trót sa ngã nhiều lần mà Giáo Hội không chịu nhìn nhận. Thậm chí dù không được hòa giải, họ buộc phải ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái, và lòng họ vẫn tin tưởng vào Thiên Chúa[19]. Cuối cùng, Giáo Hội cũng nhân nhượng một chút, là cho phép hòa giải lần thứ hai trên giường bệnh.[20] Hơn nữa, trong bối cảnh này, sự phân biệt kỳ thị giữa một lớp tội nhân và tín hữu trung thành biến mất, và người ta ý thức hơn đến sự tội phổ quát ở trong mọi người, ngay cả khi đã chịu phép Rửa, và họ cần phải hoán cải và được giao hòa liên tục.
Một phương diện quan trọng trong thần học về bí tích hòa giải thời các Giáo Phụ là vấn đề “chìa khóa Nước Trời”, tức là khả năng tháo và buộc. Câu hỏi gai góc này đã quấy rầy thần học bí tích giải tội mãi cho đến hôm nay, và là nhân tố quan trọng của vấn đề . Thành ngữ “chìa khóa Nước Trời” và ý niệm “tháo và buộc” rút từ Mt 16,13-20. Trong bản văn này, “tháo và buộc” là những thuật ngữ của truyền thống rabbi để chỉ việc “buộc” vạ tuyệt thông và “tha” vạ này. Chắc hẳn Giáo Hội thời giáo phụ đã áp dụng hình phạt công theo nghĩa này. Một tội nhân công khai bị buộc bởi vạ tuyệt thông, và nhờ thi hành một số điều kiện nào đó, họ được cởi vạ. Vấn đề nảy sinh ngay từ thời các Giáo phụ liên quan đến sự liên hệ của hành vi pháp lý này của Giáo Hội và phán quyết của Thiên Chúa.[21]
Vấn đề được các giáo phụ giải quyết khác nhau, nhưng tựu trung đều nhất trí rằng quyền tháo và buộc thuộc về Giáo Hội như một toàn thể, tức là cộng đoàn tín hữu, dù được thực thi bởi các giám mục và đôi khi bởi các linh mục. Thứ đến, có một sự xác nhận rằng có một liên hệ hữu cơ giữa việc thuộc về Giáo Hội và việc vào Nước Thiên Chúa. Mối liên hệ này không đơn giản chỉ là việc Giáo Hội phán quyết số phận của một người ở đời này rồi Thiên Chúa sẽ thực hiện sau khi người đó chết, vì Người đã trao quyền ấy cho Giáo Hội. Các giáo phụ rất lưu ý đến sự khác biệt và cao cả của Thiên Chúa, và biết rằng lòng nhân từ của Thiên Chúa vượt quá những gì con người có thể nghĩ tới.
Nhưng có một quả quyết rõ ràng rằng có một sự liên hệ giữa việc tháo buộc của Giáo Hội và việc thực thi lòng nhân từ của Thiên Chúa. Nói chung, các giáo phụ nói về tương quan này bằng những hạn từ đầy nghịch lý và để ngỏ vấn đề ở đó. Có lẽ ngày hôm nay chúng ta cũng không thể làm gì khác hơn được. Nhưng phải nói rằng nếu toàn thể Giáo Hội với tất cả những sinh hoạt của nó là bí tích của Đức Kitô trên trần thế, tức là dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng và ơn cứu độ, thì phải có một liên hệ rõ ràng giữa việc đi vào Nước Thiên Chúa và việc thạm dự cách cụ thể vào đời sống và việc thờ phượng của Giáo Hội. Vì Giáo Hội thực sự là hiện thân của Đức Kitô phục sinh, tiếp tục công trình giải cứu con người khỏi ách nô lệ của tội lỗi. Nên tham gia vào đó chính là tham dự vào Nước Thiên Chúa hữu hình, và bị loại ra khỏi đó gần như đồng nghĩa với việc cửa Nước Trời bị đóng lại. Vì thế, “hòa giải”, tên của bí tích như thường được gọi hôm nay, vừa có nghĩa là hòa giải với Thiên Chúa, mà cũng có nghĩa là hòa giải và được đón nhận trở lại vào cộng đoàn Hội Thánh.
Qua tất cả những suy tư thần học trên đây, ta thấy những vấn đề được đặt ra là làm sao bảo toàn niềm tin truyền thống vào bí tích, lại cho thấy được một cách thuyết phục hiệu quả hòa giải của bí tích này. là cơ sở để đi vào tìm kiếm một giải pháp cho những khủng hoảng trong tâm thức giáo dân hôm nay về bí tích giải tội. Để chữa bệnh, phải hiểu rõ bệnh. Để tìm một cách thức canh tân cho bí tích hòa giải, thiết tưởng nên đi sâu hơn nữa vào chính kinh nghiệm tội. Phần trên đã lược qua lịch sử của thần học về tội. Phần tiếp theo sẽ trình bày một cách hệ thống khác để hiểu sâu hơn ảnh hưởng của những quan niệm khác nhau trong Giáo Hội đã ảnh hưởng trên tâm thức của người giáo dân nói chung như thế nào. Từ đó, có thể rút ra một hướng đi mới cho thần học bí tích hôm nay.
Những thay đổi từ sau công đồng Vatican II đã đưa lại những cách nhìn mới. Thần học đã khám phá lại chiều kích ân sủng của đời sống Kitô hữu, và giúp cho người tín hữu sống bình an hơn trong việc xây dựng một đời sống nhân đức. Tuy vậy, sự chậm chân của thần học luân lý trong việc đưa ra lời đáp cho những vấn đề thời sự là điều không thể phủ nhận. Những vấn đề cũ luôn được đặt lại dưới ánh sáng khoa học và Kinh Thánh, cùng với hiện sinh của cuộc sống, làm cho con người không thỏa mãn với những gì chỉ được áp đặt mà không được giải thích. Trong những vấn đề ấy, tội là một câu hỏi lớn và có liên quan trực tiếp đến thần học về bí tích giải tội. Vì mục đích của bí tích này là tha tội, nên quan niệm của Giáo Hội về tội sẽ trực tiếp chi phối cách thức cử hành bí tích này. Do vậy, trước tiên cần tìm hiểu thần học về tội. Trước hết, cần nhìn lại lịch sử để thấy được những yếu tố đã ảnh hưởng trên cái nhìn thần học về tội như thế nào. Thật ra, vấn đề không phải là đi tìm một định nghĩa cho tội, vì đó là vấn đề không thể trả lời được[22]. Chúng ta chỉ có thể xem xét những yếu tố đã ảnh hưởng đến quan niệm của người tin qua các thời đại, qua đó khám phá những trực giác người xưa có được về mầu nhiệm bất khả thông này.
Không thể có được một cách hiểu duy nhất về tội trong Kinh Thánh. Chúng ta gặp thấy nhiều cố gắng để nói về mầu nhiệm này từ những quan điểm khác nhau.
Khái niệm tội đã không được hiểu một cách nhất quán trong Kinh Thánh. Và trong Kinh Thánh cũng có nhiều từ ngữ và cách hiểu khác nhau về tội. Dân Chúa đã bắt đầu lịch sử của mình như một dân tộc kết ước với Thiên Chúa, và chính trên nền tảng ấy, họ ý thức dần về tội trong kinh nghiệm riêng của họ cũng như của cả dân tộc. Do đó, tìm hiểu vấn đề từ ngữ trong Kinh Thánh sẽ cho ta hiểu hơn về quan niệm của các tác giả này.
Cựu Ước
Trong Cựu Ước, người ta gặp thấy ít nhất ba từ nói về tội. “Hattah” là từ phổ thông nhất trong Cựu Ước. Đầu tiên, nó có nghĩa thông thường là “thiếu”, như thiếu điểm. Nó có một nghĩa mới hơi khác đi trong bối cảnh tôn giáo. Ở đây nó nói đến việc không làm tròn bổn phận nào đó đối với một người đứng trong một quan hệ. Như thế, nó có nghĩa là sự thiếu trung tín trong bổn phận của một người với giao ước. Trong ý nghĩa này, “hattah” không chỉ có nghĩa là tội, nhưng là tội chống lại người mà mình có bổn phận. Từ ngữ này như vậy nhắm đến sự kiện là phạm tội là chống lại Giavê và giao ước đã làm nên dân Israel.
“Awon” nói đến trạng thái bị xoắn vặn, gãy gập. Nó nhắm đến sự khiếm khuyết trong nhân cách, một sự rối loạn được cảm nghiệm như một gánh nặng trên vai mà người ta mong được giải thoát. Trong bối cảnh tôn giáo, ý niệm này cho thấy tội được nghiệm thấy như một gánh nặng một người phải mang trên vai, và mong muốn trao cho người khác khi được xá giải, như trong nghi lễ hy tế. Tội, như thế, được kinh nghiệm như một mặc cảm tội lỗi.
“Pesha” là một từ có nghĩa gốc là sự phản loạn. Nó nói đến việc nổi dậy chống lại một trật tự có sẵn. Trong bối cảnh giao ước, nó được nhìn như một hành vi sâu xa nhằm chống lại Giavê, một sự thất tín, chai lì và chống lại lòng nhân từ yêu thương của Giavê.
Ba từ ngữ trên, và nhiều từ khác, cho thấy những cách nhìn khác nhau về tội. Điều này cho thấy ý niệm “tội” không được hiểu cách đồng nhất, nhưng mỗi từ chỉ đến những trực giác và chiều kích khác nhau về mầu nhiệm này.
Ý thức đầu tiên của người phạm tội là sợ hãi. Một cảm giác sợ hãi trước thần linh. Đây là một cảm thức tiền luân lý, vì bình thường thì chỉ nguyên những sự vi phạm những nghi lễ tôn giáo thôi cũng tạo ra sự giận dữ của thần linh. Tội thường hệ tại trước hết ở việc vi phạm những cấm kỵ của phụng tự, bất chấp ý định của người vi phạm. Lúc này chưa có ý thức luân lý hay trách nhiệm cá nhân. Chỉ có một ý thức về sự phá vỡ hòa điệu có sẵn.
Những tội phạm thánh như thế được liên kết với những chiều kích thiêng thánh của đời sống con người, như sự thanh sạch trong phụng tự, hành vi tính dục và luật thờ phượng. Cảm thức về tội như một điều bất kính như thế chi phối cách hiểu của Cựu Ước. Dân Israel thường cảm thấy mình như ô uế trước sự thánh thiện của Giavê Thiên Chúa. Bộ luật về sự thánh thiện trong sách Lêvi là một bằng chứng cho điều này. Người dân bị phạt vì những vi phạm luật phụng tự, không xét gì đến ý định của họ.
Điều đáng lưu ý hơn cả không phải là sự thiếu vắng một nhãn quan đạo đức ở quan điểm này, nhưng làmột sự hiện diện sâu xa và bền bỉ của một cảm thức bất xứng “trước nhan Thiên Chúa”. Cảm thức này đưa đến nỗi sợ hãi Thiên Chúa, từ đó đưa đến ý thức về sự bất hòa điệu giữa con người và Thiên Chúa. Cũng chính cảm thức này làm cho ý niệm về tội hoàn toàn nằm trong lĩnh vực tôn giáo mà thôi.
Khi thần học giao ước phát triển, dần dần có một sự tháp nhập chiều kích luân lý vào cách hiểu này. Tội quy chiếu vào một sự vi phạm cố ý đến tương quan giao ước được thiết lập giữa Giavê và dân (sau này là với mỗi người Dothái). Tội không còn được coi như một sự vi phạm những đòi hỏi bên ngoài của việc phụng tự, song quy về thái độ bên trong cố tình bất trung, nổi loại và cứng lòng trước lời kêu gọi của luật và các ngôn sứ.
Đến giai đoạn sau, chiều kích luân lý lan đến cả những hành vi không trực tiếp liên quan đến sự thiêng thánh. Người Dothái còn coi là tội việc cư xử bất công với người đồng loại, cách riêng góa phụ, trẻ mồ côi và ngoại kiều.
Các ngôn sứ của Israel là thí dụ cho sự phát triển vượt quá lối hiểu thuần túy mang tính cách phụng tự của tội. Nhưng trong khi lối phân tích như thế có nhiều sự thật, thì cũng không nên tách biệt rạch ròi hai yếu tố phụng tự và luân lý nơi dân Israel. Vì các ngôn sứ cũng kêu gọi dân chúng trở nên thánh thiện, và phạt trách họ vì bất trung với giao ước (thường được miêu tả là ngoại tình và thông dâm). Hơn nữa, “luật thánh thiện” cũng bao gồm nhiều quy chiếu về việc cư xử với người lân cận, và các ngôn sứ thì miêu tả công bình và lòng nhân nghĩa là những đặc tính của sự thánh thiện đích thực và của lễ chân chính. Điều quan trọng ở đây là tất cả những ý niệm về tội, dù có gián đoạn, cũng đều chung một điểm là dựa trên một kinh nghiệm tôn giáo nền tảng về giao ước. Vì trong giao ước, người ta liên kết mật thiết với một Thiên Chúa thánh thiện và yêu thương, đấng không thể dò thấu. Ngay cả khi mở rộng khái niệm tội, nó vẫn không đánh mất chiều kích thiêng thánh. Mối quan tâm luân lý của các ngôn sứ về đối xử công bằng với người chung quanh hoặc chủ ý của cá nhân cũng đặt nền tảng trên thế giới tôn giáo của giao ước. Chúng chỉ khai mở thêm những ánh sáng mới về hậu quả của việc vi phạm sự thiêng thánh mà thôi. Điều đáng tiếc là sự sa đà của các thế hệ sau này. Dần dần, người ta quên đi kinh nghiệm nền tảng, họ tìm cách thoái thác những đòi hỏi của Thiên Chúa mà chỉ lo xây dựng những bức tường lề luật và giới điều bảo vệ đời sống luân lý, hầu tự cho là định nghĩa được những đặc tính của tương quan giữa họ với Thiên Chúa. Đó là lý do của thái độ nệ luật nơi dân Israel vào thời Đức Giêsu.
Một bước chuyển quan trọng khác cũng xảy ra trong Cựu Ước, là sự kiện chuyển từ ý niệm tội tập thể sang tội cá nhân. Trong dân Israel xưa, vấn đề tội cá nhân là một điều xa lạ. Tội trước tiên được coi là thái độ bất trung của dân Israel với những đòi hỏi của giao ước. Israel phạm tội với tư cách là một dân, và họ bị trừng phạt và được kêu gọi hoán cải như là cả một dân. Trong Cựu Ước có nhiều câu chuyện minh họa điều này. Khi một cá nhân, là vua hay dân thường, phạm tội, Thiên Chúa trừng phạt cả dân như là cả dân phạm tội. Ý niệm về tội phạm và trách nhiệm cá nhân đi vào tư tưởng Kinh Thánh tương đối trễ sau này.
Nguyên nhân của lập trường này cũng đơn giản. Israel được ký kết giao ước với Giavê thành một dân, chứ không như những cá nhân. Vì thế, cứu độ hay kết án, sống hay chết, là những vấn đề quốc gia. Tội lỗi đe dọa giao ước, đe dọa căn tính và sự sống còn của cả dân Israel.
Đồng thời, trong tư tưởng Israel cũng có một nhận thức phát triển tiệm tiến rằng Israel phạm tội qua sự vi phạm của những cá nhân, rằng có những lối biểu hiện cụ thể cho tội của người Israel, và mỗi cá nhân riêng lẻ đã phạm những tội ấy. Một tư tưởng khác xuất hiện, đó là nhận thức về trách nhiệm cá nhân. Điều này có nghĩa là nhìn nhận khả thể của tội cá nhân. Ý niệm về trách nhiệm cá nhân với tội của mình và khả năng bị trừng phạt chỉ vì tội của mình được tìm thấy rõ nhất trong Giêrêmia và Êdêkien. Hai vị này cho rằng Thiên Chúa thực không trừng phạt con cái vì lỗi của cha mẹ, và mỗi người sẽ nhận lãnh hình phạt chỉ vì những hành vi họ đã phạm, chứ không vì lỗi của cha ông họ.
Tuy nhiên, việc nhìn nhận tội cá nhân không đồng nghĩa với việc phủ nhận tội tập thể. Nói rằng Israel khám phá tội cá nhân không ngụ ý rằng những ý niệm về tội cộng đồng là lạc hậu. Hiểu như thế sẽ dễ bỏ qua chiều kích xã hội của con người, cũng như đặc tính cộng đồng của giao ước. Ý niệm tội bao gồm chiều kích cá nhân, nhưng không phủ nhận chiều kích cộng đồng và giao ước của đời sống.
Từ kinh nghiệm đến hành động
Như đã nói trên, hiểu biết nguyên thủy của Israel về tội chưa được biệt hóa rõ ràng. Nó mới chỉ là một cảm nghiệm khiếp hãi trước Đấng Thánh, một kinh nghiệm nói với họ rằng có gì đó sai lầm đã xảy ra. Hệ quả là ý niệm đầu tiên của dân Israel rộng hơn là những hành vi chủ ý và cá nhân như chúng ta hiểu hôm nay. Tội, theo họ, là tất cả những yếu tố của kinh nghiệm phạm tội, nhất là bao gồm cả những hậu quả của hành vi tội.
Khi ý thức luân lý phát triển, điểm quy chiếu cũng thay đổi dần dần. Lúc này, tội đi đến chỗ hệ tại ở sự phản loạn cố ý của chủ thể cá nhân và nơi những hành vi diễn tả sự phản loạn ấy. Tội đã chuyển từ một cảm nghiệm sang sự vi phạm. Từ đây xuất hiện một sự phân biệt những yếu tố khác nhau của cái toàn thể tính ban đầu, nó giải thích cái kinh nghiệm tội kia như hậu quả của tội.
Điểm qua sự phát triển của khái niệm tội trong Cựu Ước, có thể thấy rằng hiểu biết nguyên thủy về tội, được bắt rễ sâu trong Giao Ước, khởi đi như một kinh nghiệm chưa được biệt hóa. Kinh nghiệm ấy qua thời gian được tích hợp thêm vào những ánh sáng mới. Trong tiến trình phát triển ấy, ý niệm về trách nhiệm cá nhân và giá trị luân lý được đưa vào. Kinh nghiệm ban đầu về tội được giải thích rõ ràng hơn dưới ành sáng của những chọn lựa tự do đối với giao ước. Danh sách các tội xác định những cách thức diễn tả sự phản loạn hoặc cứng lòng của con người. Dù đi đến nhận thức về tội cá nhân, thì nhận thức này vẫn duy trì một thực tại thiêng thánh và chiều kích giao ước của tội.
Tân Ước: TỘI và các tội
Sứ vụ của Đức
Giêsu
Cuộc sống và sứ vụ của Đức Giêsu cho thấy Ngài đã đến thế gian để cứu rỗi nhân loại khỏi quyền lực của tội lỗi. Từ những cơn cám dỗ Ngài đã chịu trong sa mạc, qua cuộc đời rao giảng về Nước Thiên Chúa và sứ điệp kêu gọi thống hối, các việc chữa bệnh, trừ quỷ và tha thứ, cho đến cái chết và sự phục sinh của Ngài, Đức Giêsu đã đối diện với những vấn đề về tội trong tất cả sự hung dữ điên cuồng của nó.
Trình thuật Tân Ước cho thấy Đức Giêsu đã đáp trả quyền lực tội lỗi bằng (1) một nhận thức sâu sắc về quyền lực và sự tinh quái của tội, (2) một lời kêu gọi hoán cải toàn diện đối với tội để hướng về Nước Thiên Chúa, và (3) ban bố sự thứ tha cho (những) con người đã sa vào cạm bẫy của tội.
Tân Ước luôn cho thấy một sự thù nghịch bất khoan nhượng giữa Nước Thiên Chúa và quyền lực của tội. Đức Giêsu đã đến đối diện với thực tại này, và giải phóng nhân loại khỏi ách của nó qua việc loan báo Nước Thiên Chúa. Các Tin Mừng nói nhiều đến quyền lực và thực tại tội. Đức Giêsu đã đấu tranh chống lại nó, trong khi nó tìm cách làm băng hoại và nô lệ hóa con người, làm cho họ cứng lòng trước tiếng gọi của Nước Thiên Chúa và làm cho họ chống lại Đức Giêsu.
Biện pháp Đức Giêsu đưa ra cho con người là hoán cải, đừng phạm tội nữa, đòi họ vứt bỏ cuộc đời cũ lại đằng sau và “hãy theo ta.” Thách đố này được đưa ra cho cá nhân cũng như cả cộng đoàn, dân ngoại cũng như chính người Dothái. Mọi người được kêu gọi bắt chước hạt lúa mì để chết đi cho quyền lực tội lỗi, được tái sinh vào trong sự sống vĩnh cửu mới. Có khi Ngài dùng lời lẽ ân cần gượng nhẹ (trường hợp người phụ nữ ngoại tình), khi khác lại là những lời nghiêm khắc (Ngài gọi những người Pharisiêu là mù quáng và cứng lòng). Nhưng tất cả đều đòi một sự hoán cải tận căn Chúa có thể so sánh với việc chết đi sống lại. Tuy nhiên, cái việc metanoia này không chỉ nhắm tới bổn phận đối với lề luật hoặc sự thanh sách về phụng tự, nhưng đòi hỏi một con tim tan nát và hoàn toàn hướng về Thiên Chúa. Vì những vi phạm mà con người mắc phải đều xuất phát từ sự cứng lòng, và cái phải sửa chính là cái “lòng” này.
Có lẽ nét độc đáo nhất trong đường lối của Đức Giêsu chính là thái độ của Ngài với những tội nhân. Nhiều lần, Tin Mừng cho thấy lòng thương xót vô bờ của Đức Giêsu đối với những tội nhân, hoặc trong các dụ ngôn (người con hoang đàng), hoặc trong chính hành động của Ngài (dùng bữa với những người thu thuế và kỹ nữ). Ở đây Ngài cho thấy một sự dấn thân nhiệt tình cho những con người bị cầm tù bởi chính tình trạng tội lỗi của họ, Ngài mang cho họ một lời chữa lành và tha thứ.
Gioan và Thế gian
Chúng ta tiếp tục tìm thấy nhiều chỗ trong Tin Mừng nói về tội cá nhân, nhưng đó không phải lý do ủng hộ cho việc cá nhân hóa tội được thấy ngày hôm nay. Vì trong Tân Ước cũng dùng một từ ngữ khác để chỉ đến một chiều kích rộng lớn hơn của tội.
“Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian.” (Ga 1,29) Trong một lời nằm ở đầu sách Tin Mừng thứ tư, vị Tiền hô đã công bố sự xuất hiện của Đấng không những rửa sạch các tội lỗi cá nhân của chúng ta, song còn cất đi TỘI của thế gian. Việc sử dụng danh từ số ít ở đây chỉ ra cảm thức về một tội vượt trên những giới hạn của kinh nghiệm cá nhân về tội[23]. Khi nói về một thế gian điên cuồng và hung dữ chống lại sự điệp Tin Mừng, thánh Gioan đang nói về một thực tại siêu ngôi vị của tội. Thế gian mà Đức Giêsu đã đến và nó đã không tiếp nhận Ngài, chống lại lời của Ngài, đó không phải là những tội riêng của mỗi người nữa, song là TỘI.
Ý niệm TỘI này rộng hơn những quyết định cụ thể và hữu ý chống lại Nước Thiên Chúa. Thánh Gioan nói ở đây một tình trạng thù nghịch luôn đi trước, cám dỗ và thâm nhiễm vào ý chí của mỗi người. TỘI nói đến một tình trạng thù nghịch giữa Lời Thiên Chúa và thế gian. Trong cách nhìn này, có thể thấy một lập trường căn bản chống lại ý muốn của Thiên Chúa, một tình trạng kinh khủng mà người phạm tội cảm thấy mình trongđó.
Phaolô và Xác
Thịt.
Không có vị tông đồ nào có nhiều ảnh hưởng như thánh Phao-lô trong việc suy nghĩ về ý niệm và kinh nghiệm tội. Những bức thư của Ngài dồi dào những trực giác và suy tư về kinh nghiệm và mầu nhiệm tội lỗi. Như thánh Gio-an, Ngài đưa ra một bản phân tích tội bao gồm nhưng vượt quá những hành vi tội cá nhân có chủ ý và tự do.
Có lẽ hình ảnh độc đáo nhất trong thầnhọc về tội của Phao-lô là từ “xác thịt”. Cũng như từ “thế gian” trong Gio-an, xác thịt ở đây không chỉ chiều kích thể lý của đời sống, nhưng là một kinh nghiệm rộng hơn về con người toàn thể, trong đó chứa đựng một sự chống lại Lời Thiên Chúa. Thánh Phao-lô nói về TỘI thấm đẫm và đùa giỡn với ý chí của Ngài, buộc Ngài làm điều xấu mà Ngài muốn tránh, và dẫn Ngài ra xa điều tốt mà Ngài muốn làm.
TỘI hiểu theo nghĩa này trượng trưng cho một sức mạnh thâm nhập toàn bộ thân phận con người, thâm nhập toàn bộ ý chí của con người khi nghe tiếng gọi của Tin Mừng. TỘI như thế rộng hơn phạm vi những hành vi cá nhân. Nó là nền tảng để phát sinh những hành vi phản loạn cá nhân.
Điểm qua vài quan niệm nổi bật trong Kinh Thánh, có thể cho chúng ta một cảm thức về tội được đặt trong bối cảnh một lời kêu gọi hoán cải tận căn của Thiên Chúa. Sức hút mạnh mẽ của tội được cảm thấy không chỉ trong những lỗi phạm cá nhân, thậm chí sự cứng lòng của con người, nhưng là một cảm thức phổ quát, siêu ngôi vị về sự chống cự gian giảo đối với việc loan báo Nước Trời.
Trong cộng đoàn Kitô hữu sau thời Tân Ước đã có hai bí tích dành cho tội: phép Rửa và Giải tội. Nhiều tác phẩm đã được viết để bàn về vai trò bí tích của Giáo Hội trong việc hòa giải và tha thứ tội nhân. Sau này, cũng xoay quanh những vấn đề ấy mà thần học luân lý xuất hiện những tác phẩm về tội.
Dù tập trung trên vai trò bí tích của Giáo Hội, nhưng như McCormich nhận xét, công cuộc nghiên cứu về tội trong Giáo Hội phương Tây thường bị chi phối bởi việc phân tích có tính pháp lý. Những quan tâm có tính mục vụ thường tập trung vào mức độ trầm trọng của chất thể và mức độ chủ tâm của chủ thể.
Phép Rửa và Tội
Nguyên Tổ
Cùng với việc đưa vào thực hành việc rửa tội cho trẻ em trong những thế kỷ đầu sau Đức Kitô, những tác giả khác nhau đã đặt câu hỏi về mục đích của việc rửa tội cho các em nhỏ chưa phạm một tội riêng nào. Trả lời cho vấn đề này, họ cho rằng phép Rửa tẩy xóa khỏi các em nhỏ dấu vết của tội Ađam, một tội mà mọi người xuất phát từ con người đầu tiên đã mang lấy.
Lời giải thích của thánh Âu-tinh đã đưa ra một dẫn giải chi tiết nhất về vấn đề này. Ngài cho rằng mọi người đều phải chịu những hậu quả của sự sa ngã của Ađam, và vì thế cần đến ơn cứu độ để được giải thoát khỏi tình trạng xáo trộn này. Trong khi nguyên tội khác với tội riêng vì không do chủ thể gây ra, vẫn cần thiết có phép rửa để cứu trẻ sơ sinh khỏi quyền lực của tội này và có sức mạnh chống lại những hậu quả của tội này còn lại trong dục tình.
Thần học về nguyên tội tiếp tục được phát triển trong các nhà kinh viện (ST: Ia IIae; Q.81-85). Sau này Công đồng Trentô đã xác định nó cách chính thức và được giảng dạy trong hơn ba thế kỷ. Nội dung giáo lý của công đồng Trentô có thể tóm tắt như sau:
i. Ađam đã phạm tội bằng một hành vi cụ thể, và ngang qua hành vi này, tội đã đi vào thế gian.
ii. Tội Ađam được thông truyền cho cả nhân loại qua việc truyền sinh, nên mọi người (trừ Đức Maria và Đức Kitô) đều là tội nhân thực sự trước khi có một hành vi chủ ý nào.
iii. Phép Rửa tẩy xóa hoàn toàn vết nguyên tội nơi con người, nhưng những hậu quả của tội này thì vẫn còn.
Trong vấn đề nguyên tội, Giáo Hội đã ý thức về một tình trạng tội lỗi nơi con người vượt ngoài những tội cá nhân đã phạm. Đó là một tình trạng được gán cho sự đổ vỡ do con người ban đầu gây nên, và chỉ được cứu chuộc bằng việc đón nhận cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô. Sau này, người ta sẽ ý thức hơn về sức mạnh của nó. Nó không chỉ là một tình trạng, nó là một thế lực.
Việc xưng tội và
tội trọng, tội nhẹ.
Trong Tân Ước cũng có những phân biệt về mức độ trầm trọng của những tội khác nhau. Không phải mọi hành động đi ngược ý muốn của Thiên Chúa đều quan trọng như nhau. Chẳng hạn, thánh Gio-an xin các tín hữu cầu nguyện cho những anh em phạm tội, ngoại trừ trường hợp “tội chết”. Hơn nữa, tội nghiêm trọng nhất là tội phạm đến Thánh Thần, sẽ không bao giờ được tha thứ (Mc 3,28; Mt 12,31tt; Lc 12,10).
Trong những thế kỷ đầu Kitô giáo, việc đền tội công khai phổ biến và dành cho những tội nhân trong cộng đoàn là những người đã chịu phép rửa và đã sa ngã. Nhưng hình phạt này không dành cho hết mọi tội nhân, mà chỉ giới hạn vào ba tội lớn – bội giáo, ngoại tình và giết người. Với những người khác, họ được khuyên đọc Kinh Lạy Cha, ăn chay và làm những việc bác ái cho người nghèo. Nhờ đó họ được tha thứ. Qua đó, cho thấy một nhận thức rằng không phải mọi hành vi phạm tội đều nghiêm trọng như nhau. Phân biệt giữa tội trọng và tội nhẹ dựa trên tầm mức nghiêm trọng của “chất thể” và sự tham gia của chủ thể vào hành vi này. Điều này được khẳng định tại công đồng Carthage (418). Việc sám hối công khai được thay thế bằng xưng tội riêng, hình thức sẽ trở nên phương thế thông thường để xưng tội. Tòa giải tội là nơi xưng thú, phân biệt tội trọng và tội nhẹ và tha thứ.
Mặc dù những phạm trù trọng – nhẹ phản ánh một trực giác của Kinh Thánh về cấp độ của tội, nhưng Bernard Haring đã cảnh báo về một sự bù trừ xung quanh việc phân biệt này và những cố gắng tỉ mỉ nhằm xác định chúng. Việc cố gắng xác định cho chính xác mức độ trọng khinh của tội đã che khuất đi lời mời gọi quay về của Tin Mừng.[24] Sự phân biệt này cho thấy khuynh hướng phân tích tội từ quan điểm pháp lý, một khuynh hướng sẽ tiếp tục bằng việc xuất hiện khoa thần học luân lý. vào thời kinh viện, những phân tích luân lý đã đi đến chỗ hình thành một cú pháp về tội, phân biệt tội với hình phạt, tội trọng, tội nhẹ và nguyên tội, tội trong hành vi và tội trong tình trạng. Các thần học gia thảo luận về những vấn đề dục tình và tội như một sự khuyết phạp của ơn sủng, và đưa ra bảy mối tội đầu. Dưới ảnh hưởng của cách tiếp cận trừu tượng và mang tính pháp lý này, người ta tìm đến một sự diễn tả rõ ràng, nhưng lại bỏ qua hoặc coi nhẹ cảm thức mục vụ và Kinh Thánh về tội.
Phần lớn khoa thần học luân lý trước Vatican II được dành cho việc huấn luyện hàng giáo sĩ trong việc ban bí tích hòa giải. Do đó, việc phân tích tội hướng đến hai mối quan tâm lớn là xác định mức độ phạm tội của tội nhân và đưa ra một hình phạt công bằng. Hai phong trào lớn từ thời Trung cổ phản ánh rõ điều này là những sách hướng dẫn việc đền tội và các thủ bản luân lyù dành cho các vị giải tội.
Sách hướng dẫn
việc đền tội.
Cùng với sự phát triển của việc xưng tội riêng vào đầu thời Trung cổ, người ta thấy xuất hiện các sách hướng dẫn việc đền tội (penitentials). Được viết cho các vị giải tội ít học, những sách này đưa ra những chỉ dẫn thực tế và có tính mục vụ để gán những hình phạt dựa trên tội. Những sách này liệt kê những hình phạt nên gán cho những tội được xưng thú. Đây không phải là những tác phẩm thần học hay mục vụ, nhưng ảnh hưởng của chúng trên việc xưng tội thật quan trọng, và qua đó ảnh hưởng đến suy nghĩ của Kitô giáo về tội lỗi và sự tha thứ. Theo McCormick, qua những thể loại văn chương tôn giáo này, Kitô giáo đã bước một bước dài tới việc nệ luật đến độ quá chi tiết, nó coi luân lý là việc tránh tội, và một cách mặc nhiên nhìn nhận ân sủng chỉ là sự vắng bóng của tội.
Trong bối cảnh bí tích, thay vì ân sủng tha thứ của Thiên Chúa, các sách hướng dẫn việc đền tội đã chú ý một cách không bình thường tới số lượng, chủng loại và mức độ nghiêm trọng của tội. Vì thế, khoa luân lý Kitô giáo dần dần đã trở thành một khoa học về tội.
Các thủ bản
(manuals) thần học luân lý.
Thế kỷ XVI chứng kiến một loại sách mới cũng giúp cho các cha giải tội xác định các chủng loại, bản chất, số lượng và mức độnghiêm trọng của tội. Những thủ bản thần học luân lý này cũng quá chú ý đến tội mà không lưu ý gì đến truyền thống thần học tín lý hay Kinh Thánh. Chúng liên kết nhiều hơn với giáo luật, trong đó hiểu và cắt nghĩa tội từ quan điểm pháp lý.
Vấn đề ở đây là các thủ bản này hướng đến việc giới hạn thần học luân lý trong việc nghiên cứu các hành vi tội lỗi, mà không đếm xỉa gì đến sứ điệp Tin mừng. Rất nhiều tác phẩm bàn về vô số loại tội theo chủng loại đã làm cho thần học luân lý thành một khoa học thật sự về tội.
Bước vào thế kỷ XX, suy tư của Kitô giáo về tội vẫn còn đóng khung trong ảnh hưởng của các sách hướng dẫn trên, đặc trưng bởi một lối phân tích trừ tượng và có tính pháp lý cao. Ngôn ngữ nói về tội chú ý đặc biệt đến phân tích hành vi của cá nhân. Tầm quan trọng chủ yếu được dành cho chất thể khách quan của những hành vi đó, đẩy chủ ý phạm tội của chủ thể xuống hàng thứ yếu.
Tuy nhiên, sau công đồng Vatican II, những thay đổi đã bắt đầu diễn ra. Thần học luân lý đi đến một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, phần nào có tính hỗn độn, vì còn trong những bước khai phá cho một thời kỳ mới. Các thủ bản bị loại trừ, và những phương pháp tiếp cận khác nhau để nghiên cứu luân lý Kitô giáo đang được thử nghiệm. Không chỉ có những câu trả lời mới, người ta cũng bắt gặp những vấn đề mới của thời đại.
Liên quan đến tội, có nhiều thay đổi diễn ra. Lối phân tích mang tính pháp lý ngày xưa được thay thế bằng một cách tiếp cận có tính mục vụ nhiều hơn, khởi đi từ lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngôn ngữ giao ước của Kinh Thánh được tái khám phá, nhấn mạnh chiều kích tương quan, ơn gọi và nhân vị trong tội. Những trực giác của tâm lý học chiều sâu và những nghiên cứu của các nhà tân Thomas đã đưa đến việc hình thành một thần học mới về tội ít dựa trên việc phân tích hành vi cho bằng việc tìm hiểu các nhân đức và thói xấu. Những suy tư hệ thống hơn đặt hiểu biết về tội của thần học luân lý trong bối cảnh của việc hoán cải tận căn. Phân tích xã hội và những kinh nghiệm về sự bất công toàn cầu đã dẫn đến việc tìm lại những ý niệm Kinh Thánh về chiều kích tập thể của tội.
Nhiều điều xảy ra rất hữu ích cho việc hiểu bản chất của tội, nhưng sẽ không đầy đủ nếu nói rằng thần học luân lý chưa đạt tới một tổng hợp mới. Tình trạng hiện tại của thần học luân lý phản ánh một lãnh vực mục vụ đang vật lộn để đến gần hơn với Kinh Thánh, tín lý và các khoa học đời, đồng thời chú ý nhiều hơn đến lời mời gọi hoán cải. Nói rằng thần học luân lý nói chung và hiểu biết về tội nói riêng đang trong cơn khủng hoảng không nhất thiết có ý nghĩa tiêu cực. Khủng hoảng, như đã nói trên, cần thiết và là cơ hội để lớn lên.
Việc lướt qua lịch sử thần học về tội cho ta thấy một sự thay đổi trong cái nhìn của Giáo Hội về tội, cũng như những vấn đề còn để lại cũng như đặt ra cho thế hệ hôm nay. Cuôïc khủng hoảng nơi bí tích giải tội cho thấy con người hôm nay cần một quan niệm mới về tội có khả năng diễn tả tốt hơn thực tại tối tăm ấy. Cần tìm kiếm một cái nhìn hệ thống có thể diễn tả được bản chất của tội trong quan hệ yêu thương với Thiên Chúa, đấng không kết án nhưng tha thứ và chữa cho lành. Sau khi đã trình bày khá chi tiết quan điểm thần học về tội một cách hệ thống như thế, cần xem xét quan điểm của Giáo Hội về bí tích giải tội, để hiểu hơn những vấn đề đang tồn tại. Thực sự, vấn đề không chỉ nằm trong nghi thức được cử hành, song bao trùm một bình diện rộng hơn và sâu hơn. Đó là ý thức và thái độ của người cử hành cũng như những người tham dự nghi thức này. Có những điểm mới trong nhận thức của con người hôm nay có liên quan đến hiểu biết về bí tích hòa giải sẽ được trình bày tóm tắt dưới đây.
Một trong những nét quan trọng của tư tưởng triết học cũng như thần học ngày nay là sự chú trọng đến con người như một nhân vị độc đáo và có vị trí cao cả trong vũ trụ. Nhân học Kitô giáo hôm nay cũng không thể bỏ qua những ánh sáng mới này. Trái lại, với trực giác được mặc khải soi sáng, nhân học Kitô giáo khám phá lại một lần nữa ý nghĩa của vận mệnh con người trong viễn tượng cứu độ nơi Đức Kitô phục sinh. Cái nhìn này đào sâu ý nghĩa của hiện sinh con người như một hữu thể độc lập có khả năng suy tư, có tự do và xây dựng hiện hữu bằng chính những kinh nghiệm của mình.
Với khả năng suy tư và tự phản tỉnh, con người nhìn vào thế giới, đánh giá nó và nhận định vị trí của mình như một thực thể vô song, độc đáo. Điều đó nói lên phẩm chất cao quý của họ, và đề cao sự tự ý thức của con người. Do là một nhân vị, con người có khả năng làm chủ vận mệnh mình, và quyết định lấy cuộc sống của mình, không mù quáng phó mặc cho những thế lực thần bí như trước. Trong khi nhìn nhận những điều siêu nhiên vượt ngoài tầm cảm nhận của con người, họ cũng tìm cách hiểu về những điều đó và tự chọn một thái độ đónnhận nó theo hiểu biết của mình.
Con người cũng ý thức mình là một thực thể có tính xã hội. Sống là sống cho, sống với và sống trong một xã hội gồm những con người như mình. Con người không thể hoàn thành mình nếu không có giao tiếp với những người khác. Để sống, con người cần tình bạn, cần quan tâm và được quan tâm, cần yêu thương. Tương quan tình bạn ấy liên kết con người lại với nhau, làm cho họ sở hữu nhau nhưng lại mở ra đến vô hạn, chứ không trói buộc nhau. Tình bạn làm cho con người nhận ra những giá trị độc đáo và tốt đẹp nơi những người khác, nhờ đó làm phong phú hiện sinh của mình và làm cho nó thêm ý nghĩa. Có thể nói rằng tình bạn là một khám phá lớn nhất trong khoa nhân học hiện đại.
Cũng nhờ nhận ra những giá trị của người khác, tôn trọng và đón nhận nó, con người có khả năng là chính mình một cách hoàn hảo hơn. Trong giới hạn của không gian và thời gian, đúng là mỗi người bị giới hạn trong những chọn lựa của mình. Nhưng việc quyết định số phận của mình đều nằm trong tay của chính mỗi người. Họ có quyền trở nên một nhân vị độc đáo trong thế giới này, với tất cả tự do và trách nhiệm. Không ai có thể trở thành tôi như tôi là, và cũng không ai có thể cấm tôi là tôi được. Con người có tất cả khả năng và quyền hạn để trở thành một con người tốt, trung thực. Họ cũng có thể chọn trở nên hạnh phúc hơn trong hoàn cảnh hiện tại, hoặc nhạy bén hơn với nhu cầu của con người và thế giới xung quanh, cho dù thực sự có những trở ngại to lớn. Điều đó không dễ, nhưng nếu xét cho cùng, con người, khi giúp nhau, có thể vượt qua những rào cản ấy để đạt được cái mục đích tốt đẹp mà họ đã chọn cho mình.
Một điểm nhấn khác trong nhân học ngày nay là chiều kích kinh nghiệm của con người. Về một khía cạnh nào đó, con người hình thành thế giới quan của mình nhờ tương tác với thế giới xung quanh cũng như thế giới tâm linh, và con người là tổng hợp của tất cả những kinh nghiệm đó. Kinh nghiệm không chỉ là sự tiếp cận hay đụng chạm với thế giới, song nhờ khả năng tự do và phản tỉnh của mình, con người chọn một thái độ, một lập trường để tương tác, tự do chọn lựa một ý nghĩa từ những gì xảy đến. Qua đó, con người cho mỗi sự kiện một ý nghĩa, một giá trị cho riêng mình, và nhờ đó tạo nên một tương quan với tất cả những gì lọt vào trong ý thức của mình. Dễ thấy những ví dụ trong đời sống cho thấy rằng một sự kiện, một sự vật nào đó vô nghĩa với người này nhưng lại vô cùng hệ trọng với người khác. Chính thái độ đón nhận của con người đã làm nên ý nghĩa của sự vật.
Trong nhãn quan Kitô giáo, điều này không đi ngược với niềm tin vào Đức Kitô. Trái lại, niềm tin Kitô giáo thôi thúc và trợ giúp con người sống đến cùng cái định mệnh cao quý của mình, để tiến tới gương mẫu tối cao là chính Đức Kitô, con người và Con Thiên Chúa. Đức tin còn dạy rằng cái đích nhắm cao quý nhất ấy không thể nào đạt tới chỉ bằng nỗ lực của con người, song còn phải nhờ sự trợ giúp của Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi con người một mình trong cố gắng vươn lên ấy, trái lại luôn hỗ trợ họ bằng ân sủng của Người. Đời sống tôn giáo là một cố gắng liên lỉ của sự vươn lên và cộng tác với ơn sủng của Thiên Chúa. Những cản trở ngăn cản con người hoàn thành mục đích cao đẹp đó là một phần của mầu nhiệm sự dữ. Và những thất bại trong việc trung tín ấy là tội. Do vậy, tội không chỉ có liên hệ đến Thiên Chúa, song trước tiên liên hệ cốt thiết đến vận mệnh cuối cùng của con người. Tội chính là sự hủy hoại các tương quan với Thiên Chúa và với thế giới này.
McCormick đưa ra khái niệm mẫu thức (model) về tội, để hình dung được quan điểm của Giáo Hội về tội trong lịch sử. Theo ông, thần học luân lý trong quá khứ đã nhìn tội theo ba hướng khác nhau với đặc điểm riêng và giới hạn của nó. Đó là nhìn tội như một vết nhơ dính trên áo, như một tội ác và một vấn đề cá nhân. Cách phân loại này giúp hệ thống hóa tư tưởng thần học theo chiều kích lịch sử, nên ở đây sẽ dừng lại để xem xét những mẫu thức ấy trong tương quan với bí tích giải tội.
Cách nhìn tội như một vết nhơ trên áo là mẫu thức cổ điển nhất trong Cựu Ước, vẫn còn dấu vết hôm nay, hệ tại ở việc gớm ghét tội lỗi như một cái gì cần xa tránh. Quan điểm này không xét đến chủ thể có cố tình phạm tội hay không, song bị kể là phạm tội khi đã vi phạm một giới luật hoặc thực hiện một điều gì đó bị cấm kỵ. Rõ ràng, quan điểm tiền luân lý này xuất phát từ sự sợ hãi trước Thiên Chúa là đấng thánh thiện, một sự sợ hãi buộc người ta phải giữ mình cho trong sạch hầu xứng đáng đến trước nhan Người. Dễ thấy trong Cựu Ước, việc giữ mình thanh sạch được nhấn mạnh ở các việc phụng tự và sinh hoạt tình dục. Sau này, việc tẩy uế được canh tân nơi các ngôn sứ và nơi Đức Giêsu, khi việc tẩy uế này được nội tâm hóa (thanh tẩy con tim). Sự kết hợp giữa việc đụng chạm đến máu huyết và tội được đào sâu thêm qua việc chống lại đổ máu người vô tội. Những sự kiện trên cho thấy mẫu thức này đã được sử dụng một cách uyển chuyển, cho phép người ta nội tâm hóa hình ảnh ấy và sửa lại cho phù hợp với thời đại. Nhưng khuyết điểm lớn của mẫu thức này nhấn mạnh quá mức đến quyền lực của sự dữ, và mặc nhiên ngụ ý rằng cần phải đối phó với tội bằng những nghi thức bên ngoài. Sự thiện không có tiếng nói nào trong chuyện này, và sự thánh thiện được coi là mối đe dọa hơn là giúp đỡ. Nó đưa người ta đến chỗ sợ sệt. Vì phải giữ mình cho trong sạch, người ta dễ làm ngơ trước những thống khổ của người lân cận, như trong trường hợp dụ ngôn của Đức Giêsu về người Samari nhân hậu.
Khuyết điểm thứ hai là loại mẫu thức này gắn liền với những cấm kỵ về tình dục. Nó dùng một ngôn ngữ nghèo nàn để nói về tính dục và thiếu quân bình. Hậu quả nó đưa đến một ấn tượng rất xấu về tình dục, khiến nó chỉ được hiểu là một hành vi nhơ bẩn và tội lỗi. Đồng thời, phụ nữ dễ bị coi là nguồn gây ra tội lỗi, cám dỗ, như trong trường hợp câu chuyện sa ngã đầu tiên của con người.
Sự chú ý đến chiều kích thánh thiêng của tình dục cũng làm cho luân lý tôn giáo bỏ qua những vấn đề liên quan đến công bằng xã hội và giữa con người với nhau. Sự nghiêm khắc tuyệt đối dành cho những cấm kỵ về tình dục thường nổi bật nếu đem so với sự bịt tai với lời kêu gọi của các ngôn sứ dành cho sự công bằng với những người nghèo khổ.
Trong khi mẫu thức “vết nhơ” phần nào mang tính cách sơ khai trong nhận thức của con người về tội, thì mẫu thức quan niệm tội lỗi là “một sự phạm pháp” có ảnh hưởng nhiều nhất trên tư tưởng thần học cho đến gần đây. Quan niệm tội như một sự xúc phạm đến luật Thiên Chúa là một chủ đề thần học phổ biến khi nói về tình trạng tội lỗi của con người. Một thí dụ, Henry Rondet viết: “Tội là một sự lỗi phạm đến luật luân lý hoặc xúc phạm đến luật Thiên Chúa.”[25] Thánh Thomas cũng cho rằng “thật phù hợp khi định nghĩa tội là một lời nói, hành động hay ước ao đi ngược với luật Thiên Chúa”[26]. Những thay đổi trong thần học luân lý sau công đồng Vatican II là một cố gắng nhằm điều chỉnh lại cách hiểu nặng phần pháp lý và cá nhân này.
Mẫu thức “tội phạm” nhấn mạnh tự do và trách nhiệm của chủ thể trong hành vi phạm tội. Trong mẫu thức này, ba nhân tố có thể nhận ra: (1) Tội được hiểu là một hành vi pháp lý; (2) Chủ thể phạm tội là một cá nhân; và (3) hành vi phạm tội là một sự nổi loạn cố ý chống lại trật tự của Thiên Chúa. Nó cũng nhấn mạnh tính cách công bằng, và đòi hỏi một sự đền bù do sự phạm pháp này gây ra. Nghiên cứu sự thịnh hành của quan điểm này trong các Giáo Hội Kitô hiện nay, cho thấy có nhiều yếu tố đã ảnh hưởng đến nó: sự nhấn mạnh đến cá thể trong tư tưởng phương Tây; mối quan hệ chặt chẽ giữa những cơ cấu giáo quyền và chính quyền; khuynh hướng đi xa những cách hiểu ban đầu của khoa luân lý, tiến dần đến một chủ nghĩa duy lý cứng nhắc và chặt chẽ hơn; và việc xưng tội cá nhân[27]. Tất cả những yếu tố này đưa đến một cái nhìn về tội nặng mùi pháp lý và cá nhân. Nó xem tội là một sự phạm pháp. Vì coi trọng tự do và ý chí của chủ thể, nó cũng đòi hỏi một sự đền bù tất yếu do chủ thể phạm tội.
Giới hạn của mẫu thức này rất nhiều. Việc khách quan hóa các tội đã đưa thần học luân lý đến việc nghiên cứu quá chi tiết các thứ tội có thể phạm (hầu có thể định hình phạt cho công bình), xem việc phạm tội như những đối tượng khách quan không liên quan gì đến bối cảnh lịch sử của người phạm tội. Hậu quả là thần học luân lý bị lệch hướng và không còn là một nền thần học lành mạnh về ân sủng, mà một cách vô thức, bị ám ảnh mạnh mẽ bởi quyền lực của tội, và không biết đến Thiên Chúa giải phóng và hòa giải của Kinh Thánh. Mẫu thức này đề cao quá đáng tự do của con người, như trường hợp Pelage, và hướng con người đến sự trừng phạt hơn là hòa giải. Chủ nghĩa cá nhân cực đoan của mẫu thức này làm cho thần học luân lý không còn nhạy cảm với những vấn đề bất công xã hội, và vì lấy luật làm tiêu chuẩn, không còn khả năng phê bình các thể chế ra luật. nó cũng cô lập luân lý khỏi thần học tín lý, Kinh Thánh và tất cả kinh nghiệm dồi dào của con người, và vô tình ủng hộ cho những hệ thống quyền bính đạo cũng như đời cả khi chúng mang tính áp bức.
Một điểm nhạy cảm lớn nhất với lương tâm con người hôm nay là việc bạo hành với người vô tội[28]. Chính mẫu thức này đã bị phê bình là cộng tác vào việc này. Khi chú trọng đến việc luận tội và ra hình phạt, quan điểm này hướng đến việc loại trừ tội nhân ra khỏi cộng đoàn, như một mầm nguy hại cho cộng đoàn. Trong trường hợp ấy, chủ nghĩa cá nhân đã đẩy tội nhân ấy trở nên như vật tế thần, vì cộng đoàn lúc đó đã quên đi thân phận tội lỗi của mình, chỉ nhắm trừng phạt tội nhân như một cá thể bị cô lập. Chúng ta thấy những người Công giáo tin rằng một người trẻ cứ bình thường sẽ lãnh hình phạt đời đời vì cố ý bỏ một lễ Chủ nhật hoặc một lần thủ dâm. Đó chỉ là triệu chứng của một rối loạn trầm trọng hơn – xu hướng muốn tỏ ra mình vô tội bằng cách kết án người có tội. Đức Giêsu đã cảnh cáo thái độ này nơi những người đương thời bằng lời lẽ rất nghiêm trọng. Ngài nói, thái độ chăm chú nơi những cái rác (những tội cá nhân) trong mắt người khác làm cho họ (và chúng ta nữa) trở nên mù lòa, không thấy được cái xà trong mắt mình (thân phận tội lỗi của cả nhân loại).
Mẫu thức tội phạm này đã giả định một mức độ tự do không có thực nơi mỗi cá nhân. Khi nghiên cứu cấu trúc “khách quan” của những hành vi tội lỗi, mẫu thức này đã xem nhẹ hoàn cảnh, cuộc đời và cá tính của chủ thể. Những yếu tố làm giảm nhẹ tự do của chủ thể vốn rất quan trọng trong việc phân tích luân lý tính của mỗi hành vi nay bị xem nhẹ. Mẫu thức này xem mỗi cá nhân phạm tội với một tự do tròn trĩnh, nguyên vẹn. Thực tế, những ánh sáng đem lại từ những nghiên cứu sinh học, tâm lý học xã hội và nhân chủng học cho thấy không phải như vậy.
Qua đó, có thể thấy mẫu thức này thiếu đi sự cảm thông thương xót của Tin Mừng. Nó cô lập tội nhân như một phần tử nguy hiểm cho sự lành mạnh của cộng đồng. Nó cũng nhìn tội nhân như một kẻ phạm tội với tất cả chủ ý của mình, do đó chịu hoàn toàn trách nhiệm, và đáng phải trừng phạt. Và hình phạt là cần thiết. Chú ý quá đến việc phân tích các thứ tội, mẫu thức này đã làm cho bí tích giải tội mất đi hình ảnh nhân từ tha thứ của Thiên Chúa, đấng như lời Thánh vịnh đã nói “như đông đoài cách xa nhau nghìn dặm, tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta” (Tv 103,12).
Để sửa lại những khuyết điểm trong cái nhìn cứng nhắc của mẫu thức này, một khuynh hướng khác gặp thấy trong Kitô giáo là nhìn tội trong liên quan với nhân vị con người. Trong khi mẫu thức trên đây nhìn tội như những hành vi thực, mẫu thức thứ ba nhìn tội như có tính cá vị. Có thể gọi là mẫu thức cá vị (personal). Tức là, tội không được hiểu chỉ là những hành vi xúc phạm hoặc phá vỡ lề luật của Thiên Chúa, song là những chọn lựa nhân linh (tự do và có chủ ý) chống đối những luật ấy. Nói cách khác, hành vi không phạm tội, con người mới phạm.
Công cuộc canh tân thần học luân lý do Vatican II kêu gọi đã đem lại những thay đổi lớn trong cách nhìn về tội. Ít nhất, có thể ghi nhận ba thay đổi lớn trong bước chuyển từ chủ trương quy hành vi đến thái độ quy nhân vị: từ bỏ chủ nghĩa luật pháp; từ bỏ thái độ gay gắt xét đoán; và từ bỏ việc phân tích hành vi. Mặc dù có nhiều vấn đề được đặt ra, nhưng chủ trương casuism mang nhiều đặc điểm mẫu thức này.
Mẫu thức cá vị xem xét tội trong quan hệ giữa một chủ thể nhân vị với một Thiên Chúa ngôi vị, và do đó những hạn từ “giao ước”, “ơn gọi” được dùng nhiều. Sự sai trái của tội trong mẫu thức này không nằm trong việc vi phạm luật, nhưng ở thái độ độc ác của tội nhân lẫn sự thiệt hại gây ra cho chủ thể đối diện. Trong cái nhìn này, tội được coi là một “sự tha hóa”, vì làm cho chủ thể tự tách mình khỏi cộng đồng và trở thành thù nghịch với Thiên Chúa.
Tuy nhiên, việc đề cao tính cách ngôi vị như thế không phải không có vấn đề. Trong khuynh hướng đề cao cá nhân hôm nay, tội dễ dàng biến thành vấn đề cá nhân riêng tư, và những vấn đề như luân lý và đức tin bị giới hạn vào lãnh vực cá nhân. Không ai có quyền xét đoán lương tâm người khác. Tuy tránh được thái độ nệ luật của mẫu thức tội phạm, mẫu thức cá nhân lại ràng buộc nhiều hơn với chủ nghĩa cá nhân. Tội nhân vị trở thành tội riêng. Do đó, cần điều chỉnh những khiếm khuyết của mẫu thức này, để cuộc canh tân thần học luân lý không trở thành nửa vời.
Khuynh hướng cá nhân hóa tội có một nguy hiểm là đẩy vấn đề tội vào vòng bí mật, khiến người ta không còn muốn mang những vấn đề thầm kín ấy ra xem xét hoặc tìm sự trợ giúp từ những người khác nữa. Bí mật tòa giải tội càng khẳng định thêm nơi họ niềm tin rằng những gì được nói ở tòa giải tội là điều đáng xấu hổ và che đậy (tòa giải tội hứa rằng sẽ tuyệt đối giữ bí mật cho người xưng ra). Mặc cảm tội lỗi ấy dìm sâu những tội lỗi trong bóng tối của vô thức. Người ta sẽ nhắc đến tội ấy trong tòa giải tội một cách lúng túng, ngượng ngập, vội vã. Người ta xấu hổ không phải vì đã phạm tội, song vì bị buộc phải xưng ra với một người khác (dù phải tin rằng người đó là đại diện Chúa Kitô). Ngoài ra, có nhiều vấn đề đơn thuần mang tính tâm bệnh chứ không phải tội, song không được hiểu và chữa trị cho đúng. Càng che giấu “tội”, người ta càng khó có cơ hị hồi phục.
Những khám phá gần đây của thần học luân lý đã mang lại những đóng góp quan trọng cho việc tìm hiểu bản chất của tội. Người ta nhấn mạnh hơn đến tính chất tương quan của ân sủng, của sự sống trong Thiên Chúa Ba ngôi. Thần học cũng khám phá vai trò cộng đồng trong đời sống bí tích[29]. Trong mối tương quan cộng đồng, người ta sống và hít thở ân sủng của Thiên Chúa, người ta cũng phạm tội trong đó. Trực giác Kinh Thánh làm cho người ta chú ý đến TỘI của cộng đồng thay vì các tội riêng của từng người. Nhờ thế, các chiều kích xã hội của tội được bàn sâu hơn.
Tội không được cảm nghiệm chỉ trong khung cá nhân. Đúng hơn, mầu nhiệm tội lỗi cho ta cảm thấy sự có mặt của nó trong mọi chiều kích liên nhân, gia đình, quốc gia, giáo hội và cộng đồng toàn cầu. Nói theo kiểu Tin Mừng, “ở đâu có hai hoặc ba (triệu) người không họp lại với nhau, ở đó có tội.” Tội là sự tha hóa, đàn áp, đè nén và bạo lực. Thật hợp lý để nói về tội bằng thứ ngôn ngữ “liên đới trong tội”, “tội của thế gian” và “cơ cấu tội lỗi” hay “tội xã hội.”
Thần học luân lý khi bàn về tội theo mẫu thức nhân vị cần lưu ý đến khía cạnh cộng đồng và giao ước của tội, để không lãng quên một lĩnh vực rất quan trọng trong đời sống con người. Tất cả chúng ta đều là tội nhân. Mỗi người phạm tội nơi chính mình, và chịu trách nhiệm trong hành vi phạm tội của người khác, vì chúng ta cộng tác ý thức hoặc vô thức vào hành vi của người khác. Tội được xem là một sự tha hóa, một hành vi áp bức, thù nghịch và bất công. Bất công này, xã hội phải chịu trách nhiệm.
Một điều đáng lưu ý là lĩnh vực tội xã hội chỉ được các nhà tâm lý lưu ý nhiều, trong khi thần học lại im lặng về vấn đề này. Menninger và Scott Peck trong các tác phẩm bàn về liệu pháp tâm lý gia đình và nhóm đều nói đến việc mọi người trong một nhóm, gia đình hay một tổ chức, có liên quan đến sự phạm tội của một người và đều cộng tác vào đó.[30] Hơn bao giờ hết, ngày nay người ta coi trọng chiều kích cộng đồng trong đời sống cá nhân của con người, và do đó khi nói đến tội, không được bỏ qua yếu tố này.
Tất cả ba mẫu thức thần học trên đây về tội đều được trình bày dưới dạng này dạng khác. Nhưng tựu trung có một sự đồng ý về tính chất khiếm khuyết của cả ba mẫu thức này và đề nghị một hướng giải quyết toàn diện hơn cho thời đại hôm nay.
Từ ba mẫu thức thần học về tội trên đây, có thể rút ra những khiếm khuyết của chúng trong việc hỗ trợ chúng ta hiểu về tội. Những phức tạp của thời đại mới làm cho chúng ta phải tìm ra một mẫu thức nào khả dĩ làm được điều đó. Để làm điều đó, cần đi vào kinh nghiệm phạm tội dưới ánh sáng của những khám phá mới gần đây.
Trước tiên, phải lưu ý đến tính cách lặp lại của tội. Khi phạm tội, con người dễ phạm đi phạm lại như một thói quen khó bỏ. Tội mang đặc tính của một thói quen, nó chế giễu những cố gắng từ bỏ của ta. Những tội được xưng trong lần đầu tiên không làm chúng ta đau đớn và ám ảnh cho bằng những thất bại ê chề và lặp đi lặp lại khi chúng ta xét mình vào những lần xưng tội sau này. Tội lúc này không còn là một hành vi đơn độc nữa. Nó trở thành một ám ảnh ngày càng mạnh, một sức mạnh ngày càng lớn, như một vòng xoắn ốc vô tận.
Một đặc tính khác của tội là sự tinh quái của nó. Trong kinh nghiệm về tội có một đặc tính của một tâm bệnh, tức là có khả năng vừa lớn mạnh, lây lan vừa tìm cách che giấu tình trạng của mình. Nói như De Quincey, “khi một người có ý định giết người, chẳng bao lâu anh ta sẽ nghĩ đến chuyện ăn cắp; rồi từ ăn cắp đến say rượu rồi bỏ lễ Chủ nhật, rồi đến phạm pháp và lì lợm.”[31] Tội len lỏi vào những ngóc ngách của tâm hồn và lôi kéo con người ngày càng tiến sâu vào đêm tối của cái chết. Những chọn lựa nho nhỏ dọn đường cho những quyết định nguy hiểm hơn. Quan niệm tội là một hành vi đơn lẻ không nói lên được chiều kích thời gian và bệnh hoạn này của tội. Có thể thấy được hình ảnh của sự nảy nở tội lỗi này trong các chương 3 – 11 của sách Sáng thế cũng như đoạn Rm 1,18-32.
Một đặc tính nữa của tội là lây lan. Kinh nghiệm cho thấy khi một người phạm tội, dường như người ấy tạo ra một bầu khí độc hại quanh mình, mà ai hít phải đều bị ngộ độc. Sống trong một môi trường gồm nhiều người phạm tội, con người dễ có nguy cơ lây nhiễm những thói xấu của họ hơn. Tội của tôi ảnh hưởng đến tự do của người khác, và một cách cố ý hay vô ý, thông điệp tội lỗi được truyền từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Kinh Thánh cũng nói: “Cha ăn nho xanh, con ghê răng” (Ed 18,2).
Qua đó, ta có thể hình dung tội như một vòng xoắn ốc. Mỗi hành vi tội lỗi của một cá nhân trở nên như một virus mang bệnh truyền cho người khác, đồng thời làm cho bệnh ngày thêm nặng. Chúng ta có thể gọi đây là mẫu thức vòng xoắn ốc.
Trong mẫu thức này, tội được nhìn như một thói quen độc hại được hình thành trong đời sống con người và càng ngày càng trầm trọng hơn. Nó tồn tại dai dẳng trong con người. Những hành vi phạm tội chỉ là biểu hiện của một thói quen nằm sâu bên trong. Tương quan liên nhân vị đóng vai trò quan trọng, vì cá nhân phạm tội không chỉ từ ý muốn tức thời của đương sự, song hành vi ấy dựa trên một bối cảnh sâu rộng hơn nhiều.
Mẫu thức này còn lưu ý đến tình trạng nô lệ hóa của tội. Nó phá hủy tự do của con người và làm cho họ mất khả năng chống trả. Thánh Phao-lô miêu tả tình trạng thảm thương này trong một đoạn rất nổi tiếng:
“Tôi biết
rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật
vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, song làm thì không. Sự
thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi
lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn
phải chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi.
Bởi đó, tôi khám phá ra luật này: khi tôi muốn làm sự thiện, thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa; nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sặn trong các chi thể tôi.” (Rm 8,18-23)
Tuy nhiên, đặc tính lây nhiễm và nô lệ hóa này còn có thể diễn tả bằng một hình ảnh tốt hơn: tội như một căn bệnh, hay đúng hơn, một bệnh nghiện ngập. Đây chính là hình ảnh đã được R. McCormick diễn tả rất ấn tượng trong tác phẩm Sin as Addiction. Mẫu thức cơn nghiện vừa phản ánh được đặc tính lây lan và dai dẳng của tội như mẫu thức vòng xoắn ốc, vừa nói lên được chiều kích chủ quan của con người.
Chúng ta có thể phân tích hành vi và tâm lý của một người nghiện để thấy rõ hơn tính cách nham hiểm và lây lan của tội. Vấn đề nghiện ngập là một hiện tượng phổ biến trong xã hội hôm nay. Không cần nói thêm nhiều về tiến trình làm quen với chất gây nghiện cho đến khi nô lệ nó hoàn toàn. Theo các nhà tâm lý học, nơi kẻ nghiện ngập, dù là rượu, ma túy, sex hay quyền lực, hình thành một số quả quyết như sau:
a.
Tôi
là một kẻ xấu, tội lỗi, vô giá trị.
b.
Chẳng
có ai yêu thương tôi như tôi được.
c.
Không
ai có thể đáp ứng nhu cầu của tôi.
d.
Chất
thỏa mãn cơn nghiện (rượu, ma túy...) là nhu cầu quan trọng nhất của
tôi.
Và người nghiện giải thích thế giới dựa trên bốn giả định ấy.
Quá trình gây nghiện có tính chất tiệm tiến. Chất gây nghiện vừa giải quyết nhu cầu cho người ấy, vừa âm thầm tăng cường sức mạnh ràng buộc người nghiện vào nó cho đến khi không thể dứt ra được nữa. Nó tạo thành một vòng xoắn ốc ngày càng xiết chặt người nghiện trong đó. Từ chỗ là chất giải quyết cơn nghiện, nó trở thành một nhu cầu không thể thiếu và thuyết phục người nghiện chỉ tìm giải quyết nơi nó mà thôi, vì tin rằng không còn cách nào khác.
Hậu quả của cơn nghiện nơi một nhân cách thật rõ ràng. Có thể nêu lên những đặc tính cơ bản: điên loạn (vì không còn một hệ thống giá trị nhất quán nữa), giả đối (người nghiện luôn tìm cách tránh né những thông tin không có lợi cho quá trình nghiện của mình), hư hỏng về luân lý (tìm mọi cách để thỏa mãn cơn nghiện, bất chấp thủ đoạn), lệ thuộc (vào nguồn cung cấp chất gây nghiện, dẫn đến sự suy thoái nhân cách), quy ngã (chỉ quan tâm đến nhu cầu quá lớn của mình), hướng ngoại (quá quan tâm đến đánh giá của người khác về mình, mất khả năng phản tỉnh), đòi kiểm soát (để bảo vệ sự nghiện ngập của mình) và vô cảm. Có thể nói, cơn nghiện làm cho con người thay đổi hẳn một ý thức hệ để nhìn vào thế giới, và không còn khả năng nhận thức lành mạnh nữa.
Đối chiếu cơn nghiện với tội, ta có thể thấy được những điểm rất tương đồng. Điểm chung thứ nhất, người phạm tội lẫn người nghiện đều từ chối những giới hạn, những bất toàn của mình. Cám dỗ của con rắn trong vườn Eden là cám dỗ chung cho mọi người. Khi chống lại ý Thiên Chúa, con người đã tìm cách nên giống Thiên Chúa. Từ đó, tội hướng con người đến một thụ tạo nào khác với Thiên Chúa. Khước từ Thiên Chúa, con người trong tình trạng đơn độc có nhu cầu tìm đến một đối tượng thụ tạo khác, một thứ ngẫu tượng, một thứ nghiện ngập mà chất gây nghiện là cái gì đó ngoài Thiên Chúa.
Càng chìm đắm trong tội, con người nghiệm thấy ngày càng mất đi tự do của mình. Tội, cũng như cơn nghiện, nô lệ hóa con người dưới những cưỡng bách của nó. Tội nhân tiếp tục ảo tưởng rằng, “tự do làm loạn” là thứ tự do chân chính nhất, thà làm vua hỏa ngục còn hơn làm đầy tớ trên thiên đàng. Nhưng cái tự do làm cho con người vui vẻ cho đi chính mình, tự do để yêu thương người khác nay đã bị băng hoại nơi họ. Quyền lực của tội lỗi càng lớn, tội nhân càng khó thay đổi, lớn lên và ăn năn. Tâm hồn họ chết dần.
Tội cũng dẫn đến sự phân hóa trong con người. Tội nhân cảm nghiệm sự đánh mất ý nghĩa, không còn định hướng được cho đời mình. Bên trong con người tội nhân là cả một mớ những mâu thuẫn. Sự thống nhất tâm linh, tình cảm, tâm lý và thể lý đều bị tội phá hủy.
Tội làm cho con người bị tha hóa. Nó phá hoại mọi tương quan có ý nghĩa trong đời sống. Sự tha hóa, áp đặt, thống trị và lệ thuộc là những thứ thay thế cho sự bình an, hài hòa và công bình. Tội nhân cảm thấy lạc lõng với chính mình và với mọi người cũng như với Thiên Chúa.
Tội cũng giống cơn nghiện ở chỗ nó dựa trên sự dối trá. Thánh Gioan đã nói rằng tội ghét sự thật, còn Satan là thủ lãnh dối trá. Tội luôn thúc đẩy con người tìm cách biện minh cho tình trạng của mình.
Cuối cùng, tội giống sự nghiện ngập ở chỗ nó đem lại sự chết. Tội đưa đến sự chết không thể tránh khỏi cho mọi thứ quan hệ và trên chính mình.
Mẫu thức cơn nghiện này có nhiều ưu điểm. Nó giúp ta hiểu đặc tính lây lan và tiềm ẩn của tội, cũng như ý thức về cả một cơ cấu nằm đằng sau và điều khiển hành vi của người phạm tội. Nó cho thấy tội hoạt động trên nhiều bình diện khác nhau của tự do con người, làm cho con người ngày càng mất tự do. Mẫu thức này cũng giải thích sự kiện tội dần dần làm cho con người mất tự do như thế nào.
Hơn nữa, hiện tượng những gia đình hoặc tổ chức nghiện trong xã hội cũng giúp ta hiểu tác động lây lan của tội trong xã hội, và giúp ta nhận thức về tội cơ cấu hay tội xã hội. Nó cho thấy làm thế nào cả một tổ chức hay một xã hội có thể phạm tội, và cộng tác với nhau để duy trì cái vòng xoắn oan nghiệt của tội, và lây truyền tội cho các thế hệ sau.
Hiểu tội như một cơn nghiện, phương thế đối phó với chúng sẽ có nhiều điểm khác biệt. Người ta không nhìn vào tội với con mắt của quan tòa chỉ lo xét xử và thẩm định mức độ sai phạm của tội nhân để định hình phạt cho thích hợp. Người ta cũng không nhìn tội nhân như một con người đã bị ô uế, nguy hại cho xã hội, cần phải tách lìa để bảo đảm sự lành mạnh của nhóm. Cũng không còn sự quy trách nhiệm hoàn toàn cho người đó trong hành vi của mình. Thay vào đó, người giúp sẽ có thái độ của một bác sĩ tâm linh, tìm chẩn đoán, thông cảm, tìm hiểu những nguyên nhân và hoàn cảnh của tội nhân trước khi tìm phương dược thích hợp. Người ta sẽ nhìn tội nhân với ánh mắt thông cảm, biết rằng đằng sau đó là cả một hệ thống quyền lực ma quái mà chính mình có lẽ cũng vô tình góp tay vào. Và tiến trình đưa tội nhân trở về là một tiến trình gian nan, với nhiều thất bại, nhưng là một tiến trình tiệm tiến và đáng giá, vì đối tượng là một người con của Thiên Chúa cần được cứu vớt.
Và cuối cùng, mẫu thức này nhấn mạnh đến quá trình phục hồi hơn là chi tiết hóa tội. Cũng như người ta tìm hiểu cơn nghiện không phải để gớm ghét hay kết án người nghiện, mà là để cứu chữa, thì mẫu thức này cũng nhấn mạnh hơn trên tác động chữa trị và phục hồi. Và tiến trình phục hồi này hoàn toàn dựa trên tác động của ân sủng, cùng với sự cộng tác của đương sự và cả cộng đồng. Ân sủng của Thiên Chúa, chứ không phải tội, mới là nhân vật chính trong mẫu thức này.
Để phân tích hiệu quả hòa giải khi nhìn trong nhãn quan của mẫu thức này, cần một số nhận xét mở đầu về đặc tính của tiến trình phục hồi của tội nhân. Mục đích của thần học luân lý là giúp cho các người tin sống một đời sống Kitô và nhân bản một cách toàn vẹn. Nó loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, tin mừng giải phóng con người khỏi những trói buộc của tội lỗi. Thần học luân lý nhằm cái tốt hơn cho con người. Vì thế, chẩn đoán và phân tích thôi chưa đủ. Vì kinh nghiệm về tội là một cái gì đó quá hiển nhiên. Ngay chính mặc khải đã cho ta ý nghĩa tôn giáo của thực tại xấu xa này rồi. Nhưng việc mặc khải thân phận tội lỗi của con người chỉ xảy đến trong bối cảnh của việc loan báo ơn tha thứ của Thiên Chúa: “Hãy hối cải, vì Nước Thiên Chúa đã gần kề.” Cho nên, thần học luân lý phải nhắm tới ân sủng và thông truyền niềm hy vọng cho con người bị đàn áp và đe dọa bởi quyền lực tội lỗi. Tức là, thần học luân lý phải có tính mục vụ.
Chúng ta đã biết về tiến trình cai nghiện diễn ra như thế nào. Người nghiện không chỉ kiêng cữ rượu hoặc ma túy, họ còn luyện tập để trở nên người tốt hơn, mạnh khỏe hơn, toàn vẹn hơn. Nếu họ ngừng tập luyện, họ sẽ bệnh trở lại. Với họ, sống là phục hồi và phục hồi là đang sống. Cho nên, tiến trình phục hồi khỏi sự nghiện ngập cũng như tội lỗi là một tiến trình sống động, trong đó hiện diện ân sủng của Thiên Chúa. Nếu nhìn tội như một vết bẩn trên áo, người ta chỉ cần rửa cho sạch. Nếu tội là một vi phạm, chỉ cần trừng phạt và đền bù là xong. Nhưng điều đó không nói lên được ý nghĩa của ân sủng. Và sự phục hồi trong thực tế không phải như vậy mà là cả một tiến trình dài. Nhưng nếu nhìn tội nhân trong tiến trình phục hồi, ta có một hình ảnh hoàn toàn mới, hình ảnh sống động của ân sủng đang tháo gỡ dần những nút thắt và dây trói, sửa lại những hư hại, quét đi dần bóng tội của tội.
Mẫu thức cơn nghiện cũng cho ta ý thức rằng việc phục hồi là cả một tiến trình lâu dài của đời người. Không ai hoàn toàn khỏe mạnh trong đời mình, nhưng tất cả đều đang trong tiến trình phục hồi. Và đó là một tiến trình khó khăn, lâu dài. Nó không phải chỉ là kết quả của những giọt mồ hôi mà thôi. Nó là một sự giải phóng tiệm tiến nhằm làm cho con người ngày càng tự do hơn, toàn vẹn hơn, giống Đức Kitô hơn. Tiến trình phục hồi tự nó là một quà tặng.
Tiến trình phục hồi không xảy ra nguyên trong lĩnh vực cá nhân. Tội nhân trong tiến trình phục hồi nhận ra mình không phải là Thiên Chúa mà cũng không phải là đơn độc. Người ấy bắt đầu tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa và những người bên ngoài. Và sự phục hồi của một người cần có sự trợ giúp của cộng đồng. Nhưng chính việc nhìn nhận sự trợ giúp của Thiên Chúa cũng là kết quả của việc hồi phục. Nó nằm trong tiến trình trả lại cho hối nhân một thế giới quan rộng mở và toàn vẹn hơn. Bí tích giải tội khi đặt trong cái nhìn của mẫu thức này phải mang một chiều kích nhân bản và có khả năng trợ giúp con người trong tiến trình phục hồi lâu dài và thiết thực ấy.
Việc xưng thú tội lỗi và cử hành nghi thức hòa giải sẽ mang những đặc nét mới trong mẫu thức này. Mẫu thức đòi xây dựng những cách thức thực hành phụng vụ lưu ý đến “chuyện đời” của các tội nhân hay của một cộng đoàn tội lỗi, cũng như phải làm nổi bật sức mạnh của lòng yêu thương của Thiên Chúa.
Trong những năm vừa qua, đã có nhiều người lên tiếng nói về bí tích hòa giải, kêu gọi từ bỏ việc chỉ lo lập một danh sách các tội mà mang đến tòa giải tội. Để lôi kéo người ta khỏi sự quá bồn chồn lo lắng chỉ với những mảnh vụn của những vi phạm của họ đến luật Thiên Chúa, các tác giả mời gọi người tin hãy nhìn vào lòng mình và xem xét tương quan của họ với Thiên Chúa. Bước chuyển từ hành vi đến con người này là một bước quan trọng trong việc khôi phục một hiểu biết đầy đủ hơn về tội lỗi và ân sủng. Đồng thời, trong bối cảnh bí tích hòa giải, cũng còn có một nhu cầu thiết thực là xem xét lịch sử đời mình (lịch sử của tội) trong khi tiếp tục cộng tác với ơn Chúa trong tiến trình phục hồi. Vì mỗi việc cử hành phụng vụ hòa giải cũng là một phần của cả tiến trình giải phóng con người khỏi xiềng xích tội lỗi.
Việc xét lại lịch sử đời mình có thể tiến hành theo nhiều cách. Có thể cử hành bí tích cùng với một nhật ký. Điều này không có nghĩa là lặp lại những sai phạm cũ, nhưng nó cho ta thấy mình đang ở đâu trong tiến trình trở về cùng Thiên Chúa, bằng cách nhìn lại cả tiến trình của những vấp ngã và lớn lên. Có thể duy trì việc xưng tội tổng quát hàng năm, để có thể đặt mình trong bối cảnh chung, nơi đó ân sủng của bí tích có thể nói thẳng với hướng đi của cả đời mình. Điều này cũng có nghĩa là nên chọn một linh mục giải tội cố định, để ta có thể tin vào hiệu quả của bí tích không chỉ với từng giai đoạn, nhưng là với toàn thể đời mình.
Cũng cần có những nghi thức hòa giải cho những kinh nghiệm tội lỗi có tính xuyên thế hệ. Trong khi nơi bí tích rửa tội đã nói đến nguyên tội, thì nhiều người chỉ nhận ra và đối diện với sức mạnh của tội khi đến tuổi trưởng thành, và nhận ra những tội mà họ phạm khi chống lại những thế hệ mai sau. Nhiều người không nhận ra rằng mình đã vô tình hay cố ý cộng tác vào tội của người khác. Thí dụ, trong những gia dình có người nghiện, sự che chở và đôi khi giúp đỡ người đó thỏa mãn cơn nghiện cũng là một hình thức cộng tác. Những nạn nhân của sự lạm dụng, bạo lực và ruồng rẫy không chỉ cần được chữa lành, song còn cần được giải hòa và tha thứ. Đời sống của mỗi người đều chịu ảnh hưởng của vô số hành động của những người khác mà thường không thể nhận biết được. Và không ai trong chúng ta phạm tội một mình. Không ai phạm một “nguyên tội”, song tiến trình phạm tội của ta đã đan bện trong tấm vải “tội” của cả cộng đồng. Cũng không ai được chữa lành một mình. Sự liên đới này cũng cần được phản ánh trong nghi thức hòa giải. Do đó, trong việc canh tân nghi thức hòa giải, trong khi vẫn cần thiết có không gian riêng cho việc xưng tội cá nhân, nên có những phòng lớn hơn cho những nghi thức hòa giải cho một nhóm hoặc cộng đoàn. Nơi đó, mỗi người thuật lại câu chuyện của mình cho mình và cho những người khác, trong khi đó cả cộng đoàn hay cả nhóm lắng nghe trong thái độ hiệp thông và tha thứ. Việc thuật lại này có thể mang hình thức chia sẻ niềm tin. Nó có tác dụng động viên và thêm sức mạnh cho nhau để cùng tiến tới trong đức tin và hòa giải.
Nghi thức hòa giải nhóm là một điều cho đến nay vẫn chưa có một định chế chính thức, song đã chứng tỏ một hiệu quả rất lớn và cần thiết trong tiến trình phục hồi một bệnh nhân nghiện ngập. Bệnh nhân không chỉ cần được chữa lành cơn nghiện, mà còn cần giúp hội nhập lại vào trong cộng đoàn. Họ cần thấy cộng đoàn, có khi là một cộng đoàn cũng nghiện ngập như họ, đưa cho họ một cánh tay thông cảm và nâng đỡ. Tội nhân cũng thế, không chỉ cần được giao hòa với Thiên Chúa, song còn cần sự đón nhận của cộng đoàn nữa. Và khi một cộng đoàn cùng nhận trách nhiệm trong một sự dữ cua một thành phần như là của mình, họ có cơ hội bày tỏ sự đồng tâm sửa lại những đổ vỡ ấy. Chắc hẳn cần có những nghi thức ấy trong tương lai, để có thể cử hành ơn hòa giải của Thiên Chúa cho một nhóm hay một cộng đoàn. Ngoài ra, với nhiều người, việc cử hành nghi thức hòa giải chung như thế có thể là một cách sửa sai cho những thiếu sót của nghi thức hòa giải cá nhân, khi nó giúp loại trừ sự riêng tư tối tăm của tòa giải tội riêng và diệt trừ những mặc cảm xấu hổ không cần thiết. Việc nhiều người hôm nay thích xưng tội mặt đối mặt với vị giải tội, trong một căn phòng sáng sủa cũng là vì thế.
Đồng thời, liệu pháp tâm lý trị liệu gia đình cho thấy con người cần tới những kinh nghiệm hòa giải với mọi thành phần của cộng đoàn. Sự hòa giải đích thực không chỉ được thực hiện bằng những cuộc xưng tội riêng rẽ của vợ hoặc chồng, cha mẹ hoặc con cái, song còn cần cả những hình thức xưng tội cộng đoàn nữa. Việc các linh mục lắng nghe từng thành viên xưng tội và khuyên nhủ họ hãy cố gắng sống tốt hơn với những người khác chưa đủ. Nghi thức hòa giải nhóm, nếu có, sẽ là phương thế tốt đẹp để giải quyết điều này. Giáo Hội cần cho phép thử nghiệm những hình thức này. Thí dụ, có thể cử hành nghi thức hòa giải cộng đồng cho một giáo xứ, một đoàn thể qua việc nói về những vấn đề gây chia rẽ cộng đoàn. Thậm chí sẽ thích hợp hơn nếu việc cử hành này bàn đến những cách thức mà “gia đình” giáo hội đã xúc phạm đến những “con cái” của mình. Và nghi thức này có thể mở rộng từ bình diện gia đình đến những cộng đoàn rộng lớn hơn.
Nghi thức mới đã giới thiệu một hình thức xưng tội có tính cách nhân bản hơn, nhấn mạnh khía cạnh tư vấn thiêng liêng trong tương quan giữa vị giải tội và hối nhân. Những hình thức mới này gợi ý cho thấy phụng vụ của nghi thức hòa giải phải uyển chuyển tùy theo nhu cầu thực sự của dân chúng, vì mỗi người khác nhau có những nhận thức và nhu cầu khác nhau. Trong khi sáng tạo những nghi thức hòa giải cho phù hợp với hoàn cảnh, tất nhiên có những mục đích không được lãng quên.
Thứ nhất, nghi thức hòa giải phải được xem là một thành phần của bí tích hòa giải, và được đặt trong một bối cảnh hòa giải rộng lớn hơn giữa con người với nhau trong cộng đoàn. Những việc hòa giải giữa người với người, nhóm với nhóm trong cộng đoàn, hoặc cả sứ vụ hòa giải những nhóm bên ngoài cộng đoàn, tất cả là dấu chỉ hướng đến việc hòa giải với Thiên Chúa. Phụng vụ hòa giải phải được đặt nền trên những điều có thực ấy. Nếu không, những nghi thức được cử hành sẽ trở thành vô nghĩa và không sinh ơn ích gì cho người lãnh nhận.
Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là phụng vụ chỉ là thứ yếu. Trái lại, phụng vụ ấy đóng vai trò giống như ngôn ngữ trong đời sống, để mỗi người được diễn tả nguyện vọng của mình. Mỗi người cần nói lên lời thú nhận lỗi lầm, nhu cầu được hòa giải và lại trở thành bạn với nhau. Phụng vụ phải nói lên được điều đó.
Thứ đến, mỗi Kitô hữu phải thừa nhận mình đã thất bại nhiều lần trong việc sống đức tin Kitô giáo. Rằng mình chưa là môn đệ hoàn toàn của Chúa phục sinh, chưa làm chứng đủ cho người anh em của mình về Đức Giêsu, rằng mình đã phụ sự ủy thác của những anh em khác. Nói được với nhau về điều này là bước một chặng dài trên con đường tự hiểu biết mình. Nó cũng sẽ tạo một liên kết mạnh mẽ nối kết người ta lại với nhau, vì không cho nhu cầu nào phổ quát hơn nhu cầu được tha thứ. Việc thú nhận ấy cũng giúp điều chỉnh lại những ý niệm thiếu chính xác về tội, vì nó gợi đến chiều kích xã hội của tội. Nó giúp cho hối nhân nhận ra rằng tội là sự xúc phạm đến người khác, là một tiến trình tha hóa hơn là xúcphạm đến luật.
Phụng vụ bí tích hòa giải phải giúp củng cố việc huấn luyện lương tâm người tín hữu. Cho dù có được một hiểu biết chính xác về tội, chúng ta vẫn cần biết lượng giá từng hoàn cảnh chọn lựa luân lý và quyết định được thái độ đáp ứng nào là đích thực Kitô giáo, thái độ nào làkhông. Nói khác đi, cần thiết huấn luyện một lương tâm Kitô giáo lành mạnh, một điều mỗi cá nhân phải tự rèn luyện, nhưng có thể làm phong phú dựa vào kinh nghiệm của cộng đoàn. Do đó, nghi thức phụng vụ hòa giải nên có những dịp thuận lợi để mọi người suy tư về những quyết định thực tiễn của họ. Việc này sẽ giúp cho mỗi người có dịp được huấn luyện nhờ vào kinh nghiệm của những người khác. Phụng vụ hòa giải phải là lời ngôn sứ về ý nghĩa của cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, để ý nghĩa ấy trở nên nguyên tắc cho mọi lượng giá về luân lý của cộng đoàn.
Việc cử hành nghi thức hòa giải chung còn có một điểm hay là giúp củng cố quyết định hoán cải của hối nhân. Người ta dễ trung tín hơn với những lời hứa công khai; việc sám hối công khai giúp củng cố quyết định của người xưng tội. Mọi quyết định dấn thân sống niềm tin khi được chia sẻ với những người khác, như trong nghi thức hòa giải, sẽ được sự hỗ trợ của cả cộng đoàn và tăng sức mạnh cho hành vi hoán cải. Điều này giả thiết một kinh nghiệm hoán cải thực để đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa.
Việc cử hành nghi thức hòa giải phải diễn ra trong bầu khí vui tươi, để xóa đi ấn tượng nặng nề quá tập trung vào tội và làm nổi lên yếu tố hòa giải của bí tích này. Thực sự không khi nào người ta “cử hành” tội, nhưng việc hòa giải mới thực là điều đáng lấy làm mừng vui. Ngay cả khi việc hòa giải là giữa các Kitô hữu với nhau, đó cũng là một việc đáng lấy làm mừng. Vì đó sẽ là dấu đoan chắc để cho họ cảm được sự tha thứ yêu thương của Thiên Chúa. Những trường hợp hòa giải ấy có thể xảy ra nhiều nơi: trong bữa cơm, buổi họp mặt bạn bè, gia đình hoặc một cộng đoàn. Sau những trao đổi thân tình để giúp hiểu nhau và chữa lành những vết thương tâm hồn, việc đón nhận một người trở lại trong vòng tay thân thương của tình bạn quả thực là một niềm vui lớn lao, “hơn cả chín mươi chín người không cần ăn năn hối cải.” (Lc 15,7)
Cùng với việc ý thức về tội tập thể, cần có những nghi thức sám hối tập thể cho một nhóm. Nhiều khi chúng ta phạm tội trong tư thế một hay nhiều nhóm. Người ta chống đối, công kích tổ chức của nhau, tiến hành chiến tranh, bóc lột, thủ đoạn với nhau. Có thể các xứ đạo còn tranh đua với nhau về hình thức đạo đức và phủ nhận những điều tốt đẹp của nhau, v.v. Ý thức về điều đó, rõ ràng việc sám hối cá nhân thôi chưa đủ. Không có một sự nhìn nhận thẳng thắn những sai lầm ấy trong tư cách tập thể, thì những sự dữ ấy không thể biến mất được. Điều cần thiết không phải là sự lo âu bối rối hay một đánh giá tiêu cực về hoàn cảnh, song là thành thực đối diện với chúng. Phụng vụ có thể sử dụng việc công bố Tin mừng và tiếp đó là sự đáp trả của cộng đoàn với thái độ hoán cải chân thành.
Trở lại với vấn đề được đặt ra lúc đầu, cũng là lý do của việc nhìn lại và đào sâu thần học về bí tích giải tội: làm thế nào để đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của những khủng hoảng đang xảy ra nơi bí tích hòa giải?
Rõ ràng là nhiệm vụ canh tân nghi thức bí tích sám hối và hòa giải vẫn chưa xong. Và cũng như với bí tích Thánh Thể và Rửa tội, vấn đề không chỉ nằm ở việc tìm ra những công thức, dù cho có hay đến đâu. Trong vấn đề canh tân phụng vụ, một nguyên tắc được đề ra là “dấu hiệu phải có nghĩa.” Vấn đề ở chỗ đó.
“Dấu hiệu phải có ý nghĩa” tức là ngôn ngữ không được tối tăm hoặc gây hiểu lầm, hình ảnh phải giản dị, dễ hiểu, những cử chỉ trong nghi thức phải diễn tả được điều mà những người tham dự muốn diễn tả. Nhưng như thế chưa đủ, và cũng chưa đi đến trọng tâm vấn đề. Tác động của dấu hiệu phải đi sâu hơn, phải đi vào toàn bộ đời sống của Giáo Hội, vào trong những tương quan của những thành viên, cho tới những mục tiêu mà nghi thức ấy nhắm tới. Tác hiệu phải nói lên được kinh nghiệm mà nó muốn chuyển tải là sự đón tiếp của Thiên Chúa, lòng xót thương của Đức Kitô và sức mạnh của Thánh Thần. Đây là chỗ cho thấy tác hiệu có giá trị hay không. Nhưng phải nhận xét rằng tại bình diện này, những cơ cấu, những quy tắc và cấm đoán không làm được gì để hỗ trợ hay cản trở nó. Đây là nơi dành riêng cho sự sáng tạo của cộng đoàn mà thôi.
Nhìn lại những người đã và đang rời bỏ bí tích giải tội, có thể thấy rằng họ ở trong nhiều hoàn cảnh khác nhau và mang những não trạng khác nhau. Có những người hoàn toàn không tham gia việc phụng tự của cộng đoàn. Có những người không đi xưng tội, và cảm thấy bị buộc không được rước lễ nữa. Có những người chỉ không còn xưng tội nhưng vẫn tham dự thánh lễ như mọi người. Nhưng phần lớn là những người chỉ xưng tội một hai lần mỗi năm vì lý do miễn cưỡng, chứ thật tâm họ không thấy một ý nghĩa gì trong những điều mình làm. Còn có những người vẫn xưng tội đều đặn, nhưng canh cánh một nỗi tuyệt vọng vì biết rằng bí tích ấy hẳn phải mang một ý nghĩa gì đó mà họ không cảm thấy được. Trao đổi với nhiều người, nhất là người trẻ hôm nay, cho thấy những khó khăn ấy. Họ đều nói rằng bí tích giải tội chẳng đem lại đổi thay nào trong cuộc sống cả. Với họ, đấy là một dấu hiệu không có ý nghĩa, và vì thế không phải một bí tích đúng theo định nghĩa của nó.
Hiểu theo cách cũ về tội lỗi, ân sủng và ơn cứu độ, chúng ta dễ trả lời cho vấn đề này. Hiệu quả thì không thấy được, vì nó là ơn siêu nhiên. Nó không phải đối tượng quan sát được. Nhưng ta biết nó đã xảy ra, vì Giáo Hội đã dạy như thế, và Giáo Hội dạy dỗ vì đã nhận được giáo huấn từ Đức Kitô ngang qua các Tông đồ, được Thánh Thần hướng dẫn cho khỏi sai lầm, nên luôn dạy chân lý. theo một phương diện nào đó, điều này đúng, nhưng nó không giải quyết được câu hỏi liên quan đến sự thay đổi không cảm thấy được trong bí tích hòa giải. Trong bối cảnh thần học hiện này về ân sủng và thần học về bí tích hòa giải, cũng như trong cách hiểu hiện nay về tội theo những mẫu thức trên đây, không thể nói rằng hiệu quả của bí tích cứ tự nhiên nằm ngoài tầm kinh nghiệm. Tác động của ân sủng phải được hiểu theo một cách thức uyển chuyển hơn, một cách hiểu đã phổ biến rộng rãi ngày nay và được hưởng ứng mạnh mẽ, vì đáp ứng được kinh nghiệm của con người hôm nay trong nhiều chiều kích. Vì thế, nhiều người có một trình độ giáo lý không sâu sắc cho lắm, nhưng lại cho một trực cảm rất sắc bén về sự khác biệt mà bí tích hòa giải phải gây nên trong họ nếu nó thực sự là một bí tích. Họ cũng không quan tâm gì đến những cử hành phụng vụ làm cho họ bị tổn thương như bí tích hòa giải, nếu nó không thực sự đáp ứng được những nhu cầu sâu thẳm rất con người của họ.
Nhu cầu sâu thẳm mà bí tích hòa giải phải đáp ứng ấy là khát vọng trở về nhà Cha từ nơi lưu đày, trở về ngôi nhà thực của mình, tìm thấy sự giải thoát khỏi sợ hãi, lo âu và tuyệt vọng, tìm thấy sự hòa giải nội tâm đích thực với Thiên Chúa, với anh em và với mọi tạo vật, tìm thấy bình an để chấp nhận sự lệ thuộc và giới hạn của mình, chấp nhận sự không chắc chắn của tương lai và sự tất yếu của cái chết. Những nhu cầu này theo mức độ khác nhau xảy đến trong ý thức của mọi người. Tội lỗi hiện thân trong đau khổ. Người ta không trực tiếp thấy được tội là tội, dù Kinh Thánh và Giáo Hội dạy rằng nó đồng nhất với sự lệch hướng khỏi Thiên Chúa. Cái trực tiếp kinh nghiệm được là sự bất an, sợ hãi, là việc không thể sống hòa hợp với anh em mình, không thể chấp nhận giới hạn, nghèo khó và lệ thuộc của mình.
Nhiều người hôm nay cảm thấy mạnh mẽ nhu cầu được đưa trở về nhà Cha, để tìm một kinh nghiệm sống đích thực, được hoán cải về với Thiên Chúa là nguồn mạch chân lý. nhưng họ lang thang như chiên không người chăn, từ chuyên viên tâm lý cho đến nhóm chia sẻ, từ yoga cho đến Thiền, từ sex cho đến thi ca, từ rượu cho đến ma túy, từ hôn nhân chung chạ cho đến ly dị, từ bất an cho đến tuyệt vọng. Tiện nghi vật chất chỉ che phủ lên trên cái ý thức sợ hãi của họ.
Với những người ấy, kinh nghiệm về bí tích hòa giải ngày hôm nay dường như không đem lại cho họ niềm hy vọng hòa giải trong sâu xa như nhu cầu của họ cảm thấy. Bắt đầu bằng việc xét mình để tìm ra một danh sách các lỗi phạm của mình xem ra không còn là chuyện quan trọng nữa. Những người làm như thế, vào tòa giải tội tụng lên danh sách ấy, được giao cho đọc vài kinh và nghe tuyên bố “cha tha tội cho con...”, thường cảm thấy một cảm giác cay đắng về sự trống rỗng và nuối tiếc rằng tất cả biến cố ấy không chạm được đến chiều sâu của đời họ và không mang đến cho họ sự hòa giải mà họ tìm kiếm. Họ không tìm sự tha thứ theo kiểu pháp đình. Nỗi sợ hỏa ngục không còn là đe dọa với nhiều người Công giáo hôm nay. Thiên đàng bây giờ trở nên mơ hồ và bị che khuất sau mầu nhiệm sự chết. Nhiều người không còn muốn nghĩ tới chuyện thưởng phạt đời sau nữa. Họ muốn có một sự hòa giải nhân bản hơn, thiết thân hơn và cũng thiêng liêng hơn.
Có thể dễ dãi cho rằng con người hôm nay thiếu đức tin, vì họ không tin vào sự kiện là tác động tha thứ trong bí tích đã được thực hiện rồi, và đó chính là hành động của Đức Kitô (ex opere operato). Nhưng ân sủng được ban là để biến đổi con người. Không thể có việc một người được nhận ơn mà lại không cảm thấy những hiệu quả của nó nơi đời sống mình. Không thể thuyết phục người ta rằng cứu độ là chuyện tương lai, và ân sủng là điều ẩn khuất.
Có thể thấy được nhu cầu khẩn thiết của con người hôm nay trong việc cảm nghiệm sức mạnh của Thiên Chúa. Người ta đang tìm kiếm điều ấy, không phải nơi tòa giải tội nữa, song ở những nhóm cầu nguyện, nhóm chia sẻ Lời Chúa và cuộc sống. Họ tìm kiếm cảm nghiệm ấy trong tương quan với những người khác. Điều thường xảy ra trong những nhóm này là suy niệm Lời Chúa, cầu nguyện, tình bạn và những hoạt động chung. Qua đó, họ có có hội chia sẻ cho nhau nghe những thất vọng và đau khổ của mình. Họ cũng xưng thú những giới hạn của mình cho một số thành viên trong nhóm hoặc đôi khi cho cả nhóm. Những trường hợp ấy là dấu hiệu một cuộc tìm kiếm hoán cải chân thành qua trung gian của cầu nguyện và nhóm bạn, và chúng xuất phát từ một nền tảng sâu xa của khát vọng chân thành và được nâng đỡ nhờ tình bạn trong nhóm.
Một trường hợp khác là một số người có những cuộc gặp định kỳ theo kiểu tĩnh tâm tháng. Trong bầu khí cầu nguyện, suy niệm, nhóm cùng nhau chia sẻ một chủ đề nào đó hoặc nghe giảng, và khi được đánh động, họ cùng nhau chia sẻ những vấn đề riêng của mình. Họ cảm thấy một cảm thức hoán cải diễn ra ở đây. Cho dù họ không xưng tội, họ vẫn cảm thấy một cuộc hoán cải thực sự qua buổi chia sẻ đó. Bằng chứng là họ có những thay đổi sâu xa trong đời sống sau đó, qua những quyết tâm sửa đổi mình, từ bỏ mình, làm việc bác ái, v.v. Rõ ràng là trong trường hợp này, ơn hòa giải với chính mình và với đồng loại đã được thực hiện và cảm nghiệm, mà đó chỉ là một mặt của ơn tha thứ của Thiên Chúa mà thôi.
Trong trường hợp này, dấu chỉ đã có hiệu lực, tuy không nằm trong công thức nào. Nói khác đi, chính cuộc gặp gỡ đã mang bầu khí bí tích rồi, và không có ấn tượng của một cuộc xét xử. Nó dựa trên lòng bác ái, khiêm nhượng, thành thực. Và sứ vụ chữa lành của Đức Giêsu đã được thực hiệnnơi đó, không phải trong biểu tượng mà thôi. Một đặc điểm khác là trong những cuộc họp mặt ấy, không có việc xét mình trước đó về những gì cần phải ăn năn hay xưng thú. Tất cả bắt đầu với một bầu khí yêu thương và đón tiếp chân thành và ấm cúng chứ không giả tạo. Đây là điều ta muốn nói tới khi nói về thân thể Giáo Hội hay về sự hiện diện của Đức Kitô phục sinh trong thế giới. Chính trong khung cảnh ấy mà những nghi thức chính thức cần được cử hành. Vì điều cần thiết phải đạt tới hoặc là người xưng tội đã có một cảm nghiệm về sự hoán cải và tha thứ của Thiên Chúa rồi, hoặc chính nghi thức phải đưa họ đến chỗ đó. Nếu điều thứ nhất không thể dễ có khi người ta bị buộc phải xưng tội theo định kỳ, thì chính nghi thức phải tìm cách bù vào lỗ hổng ấy. Do vậy, trong nghi thức hòa giải hiện nay thường có một phần đọc Lời Chúa và suy niệm đôi chút trước khi xưng tội. Nhưng thời gian còn lại quá ít để có thể nhìn lại bản thân và đi vào một kinh nghiệm tình yêu sâu hơn với Thiên Chúa, hầu ý thức sâu sắc hơn về tội lỗi và lòng xót thương. Do vậy, nghi thức thống hối mà không có xưng tội hay giải tội xem ra thích hợp hơn, nếu việc giải tội chung không được sử dụng. Một nghi thức thống hối như thế nếu được chọn lựa và sử dụng cho thích hợp, sẽ tạo một bầu khí đón nhận và cảm thông làm cho người ta dễ hướng tới một nhận thức sâu hơn về tội lỗi của họ và lòng xót thương của Thiên Chúa. Người tham dự sẽ được biến đổi, và dễ đi đến một cuộc xưng tội cho dù sớm hay muộn.
Truyền thống vẫn có một thói quen coi các vị giải tội ở vai trò người cha, bất kể tuổi tác hay kinh nghiệm. Người ta khi đến với các vị đều mong chờ nơi các vị một sự thông thạo về đường thiêng liêng, cũng như ban bí tích cho họ sao cho phù hợp và lợi ích nhất. Điều đó đặt ra những gánh nặng cho các linh mục trẻ và thiếu kinh nghiệm. Ngày nay, nhiều giáo dân có trình độ học thức cao hơn các linh mục. Họ không tìm nơi các linh mục giải tội những hiểu biết về sách vở nữa. Họ tìm nơi các vị một người hiểu hoàn cảnh của họ từ trong chính kinh nghiệm vật lộn của họ. Trong hoàn cảnh ấy, dễ thấy vai trò của vị giải tội nói chung có tính cách anh em hơn là người cha của họ. Đây hẳn cũng là cách thức những giáo dân giúp nhau trong các nhóm cầu nguyện. Những tác viên không chính thức này chỉ chia sẻ với nhau như những anh chị em, họ chia sẻ với nhau những khắc khoải, lời cầu nguyện, trách nhiệm và cả tội lỗi trong cộng đoàn. Và điều này tỏ ra rất hữu ích trong bối cảnh hiện nay, vì nó hứa hẹn mang lại sự hiểu biết thân mật hơn.
Liên đới với cách thức huynh đệ như thế, vị giải tội sẽ tỏ ra mềm mỏng hơn, dễ tiếp cận hơn và khó giấu mình đằng sau vai trò và chức năng hơn. Tắt một lời, cách liên đới ấy gần với cách phục vụ của Đức Giêsu và các Tông đồ, cũng như những nhà lãnh đạo cộng đoàn thuở ban đầu, những người không dựa vào tước hiệu hay một đặc quyền nào cả. Vị giải tội đứng trước anh chị em mình với tất cả sự nghèo khó và yếu đuối của con người, chứ không dựa vào sức mạnh của một thể chế hay chức vị nào khác. Đây là gương mẫu mà Đức Giêsu đã để lại cho chúng ta, để cho thấy quyền năng Thiên Chúa được tỏ lộ nơi sự yếu đuối của con người, và quyền năng ấy nơi con người vị giải tội trở nên lời kêu gọi hoán cải tấm lòng và cuộc sống, điều mà không việc sử dụng một quyền lực nhân loại nào có thể làm được. Nhưng ngoài việc trở nên một lời kêu gọi, vai trò huynh đệ cũng tạo dễ dàng cho vị giải tội, vì nó không đòi sự hoàn hảo, trỗi vượt về thiêng liêng, thông thái hay bất khả ngộ; nó thực sự chỉ đòi hỏi sự khiêm nhượng, lòng thương xót và mở ra.
Vậy thì điều gì đòi hỏi nơi vị linh mục hôm nay? Vị linh mục của thời đại mới phải là con người cầu nguyện: ngài cầu nguyện để nghe tiếng Thiên Chúa muốn nói gì với hối nhân mình đang gặp gỡ, và cùng cầu nguyện với hối nhân để xin ơn của Thiên Chúa. Ngài phải là người lắng nghe hối nhân với lòng thông cảm sâu xa, để hiểu được những khó khăn hối nhân đang mắc phải. Ngài phải có khả năng nhận định tình trạng thiêng liêng của hối nhân qua những gì người ấy đã tự ý trình bày, để nếu cần thì nhẹ nhàng hướng dẫn lương tâm họ. Ngài phải chuyển cho hối nhân ơn tha thứ của Thiên Chúa một cách nồng ấm, dễ cảm, để cho người ấy hiểu rằng mình vừa thực sự được biến đổi khỏi tình trạng nghiệt ngã trước đó và được Thiên Chúa đón nhận trở lại trong tình yêu, ơn vừa lãnh nhận thực sự chạm đến cuộc đời mình. Và cuối cùng, vị linh mục phải làm cho hối nhân cảm thấy sự thúc bách của lời mời gọi hoán cải của Thiên Chúa. Những điều này xem ra quá nặng nề với một mục tử phải coi sóc đoàn chiên đông đảo, nhưng đó cũng chính là trách nhiệm Đức Giêsu đã ân cần trao gởi cho Giáo Hội, và ngài thực sự muốn mỗi người trong cương vị mục tử, sẵn sàng đổ máu mình vì đoàn chiên của Ngài.
A.
Kết
luận.
Khủng hoảng, như đã nói trên, không phải là điều đáng buồn. Nó là dấu hiệu của một đòi hỏi tận căn của một cuộc canh tân. Canh tân cái nhìn, canh tân cách thức tổ chức. Nó đòi sám hối và quay trở lại. Cuộc khủng hoảng trong bí tích giải tội mời gọi chúng ta khám phá lại khuôn mặt hiền hậu của Thiên Chúa đang chờ đợi người con hoang đàng trở về, trong ánh mắt chỉ có nỗi nhớ thương và sự tha thứ. Giáo Hội phải làm thế nào để bí tích hòa giải mang một khuôn mặt của sự đón tiếp, của yêu thương. Giáo Hội cũng phải giúp cho con cái mình thoát khỏi cái nhìn duy cá nhân, duy lề luật và duy tội, để khi nhìn vào trong đáy lòng mình, họ khám phá ra sức mạnh của ân sủng đang âm thầm nhưng mạnh mẽ hoạt động trong họ. Nhờ thế, họ được giải thoát khỏi những lệch lạc và lo sợ, khởi đầu của những mặc cảm vô ích, và hân hoan mở lòng ra dưới ánh sáng của Thánh thần và được biến đổi.
Những gì được trình bày trên đây nhằm mục đích cho thấy những hướng phải đi trong việc tìm một hình thức phụng vụ và một cách hiểu sâu hơn về thực tại tội lỗi đang đè nặng trên con người. Tìm hiểu tội để ý thức hơn ân sủng của Thiên Chúa đang hoạt động trong đời sống người tín hữu, và diễn tả nó cách hữu hiệu hơn. Vấn đề căn bản của khoa mục vụ bí tích hòa giải là những nhận thức mới chưa đi sâu vào đời sống người tin. Những cố gắng của người tin nhằm thoát khỏi những khó khăn đối với bí tích này cho thấy điều này. Điều này cho thấy tính cấp bách của việc canh tân khoa giáo lý, và cách thức trình bày bí tích này. Mong rằng mỗi người thiện chí tìm thấy cách thức phù hợp trong hoàn cảnh của Giáo Hội địa phương mình để cộng tác vào việc cải thiện hoàn cảnh hiện nay.
Cuối cùng thì, tất cả những cố gắng của con người
để diễn tả ơn sủng của Thiên Chúa đều nhằm cho thấy sự hiện diện
thường hằng của Đức Giêsu phục sinh giữa lòng Hội Thánh. Như Đức
Giêsu đã loan báo sứ điệp hòa giải bằng chính cuộc sống của Ngài,
mỗi người thiện chí được mời gọi dùng chính cuộc sống của mình để
loan báo ơn hòa giải ấy cho con người hôm nay, chứ không chỉ bằng vào
nghi thức hòa giải được Giáo Hội chuẩn nhận. Chứng tá của cuộc
sống sẽ là dấu chỉ mạnh mẽ nhất của ơn cứu độ Thiên Chúa: “Con hãy
về bình an. Lòng tin của con đã cứu con.” (Lc 7,50)
B.
Gợi
mở.
Với tất cả những suy tư trên đây, rõ ràng những vấn đề được đặt ra có liên quan đến một công cuộc canh tân sâu rộng trong việc dạy giáo lý, rao giảng Tin Mừng và cử hành phụng vụ bí tích. Tất cả đều cần được nghiên cứu để tìm ra những thực hành phù hợp. Cũng qua phần trình bày trên đây, rõ ràng bí tích hòa giải được cử hành qua bốn nghi thức mới vẫn còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu thêm:
1. Luật buộc xưng tội định kỳ.
2. Tuổi được lãnh bí tích hòa giải lần đầu tiên.
3. Việc sử dụng nghi thức tha tội chung.
4. Sự cần thiết của việc xưng tội riêng với linh mục.
Ở vấn đề thứ nhất, có thể thấy nghi thức mới, nếu được cử hành nghiêm chỉnh sẽ mất nhiều thời giờ, và điều này có vẻ nghịch lý với việc buộc phải xưng tội thường xuyên. Việc nhấn mạnh chuyện xưng tội thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến việc kéo dài thêm các thành phần cầu nguyện then chốt trong nghi thức, và như thế sẽ bóp nghẹt xu hướng canh tân đang được chờ đợi.
Ở vần đề thứ hai, quy định của công đồng Latran IV về sự cần thiết phải xưng tội một năm một lần nếu đã phạm tội trọng. Quy định này đã trở thành quy luật căn bản của Giáo Hội, buộc mọi tín hữu ở mọi độ tuổi phải xưng tội một năm một lần khi không gặp cản trở thể lý hay luân lý. Nhưng một đòi hỏi phụ, buộc trẻ em phải xưng tội lần đầu trước khi được chịu lễ lần đầu, điều này đi ngược với điều khoản của công đồng Latran IV, vì các em chưa phạm tội trọng.
Trong nghi thức tha tội chung, có vấn đề khó khăn là các hội đồng giám mục không đồng ý về những trường hợp tha tội chung hợp pháp trong lãnh thổ của mình. Sự thiếu nhất trí này xuất phát từ sự không chắc chắn về mặt thần học của những từ ngữ “trường hợp khẩn thiết” (casus necessitatis), “một thời gian dài” (diu), và “xưng tội trọn vẹn” (confessio integra). Hơn nữa, một số vị lãnh đạo Giáo Hội địa phương đi ngược với bộ nghi thức mới, muốn duy trì hình thức xưng tội cá nhân như là “nguyên tắc”. Cần phải minh định những yếu tố trên đây, để việc ban phép giải tội chung không còn tính cách hàm hồ trong đời sống người Kitô hữu. Cuối cùng, trong nghi thức tha tội chung, có đòi hỏi những người nào ý thức về những tội trọng của mình phải xưng thú những tội ấy trong lần xưng tội riêng sau đó. Vì những tội trọng ấy đã được tha rồi, và đương sự không chỉ được lãnh nhận Thánh Thể cách hợp pháp, song cả với mọi bí tích khác nữa, nên lý do của điều khoản buộc này chưa rõ ràng.
Những nghi thức được đề nghị về hòa giải cộng đoàn vấp phải những khó khăn tâm lý của con người theo nhận thức cũ, còn rụt rè với việc bày tỏ khuyết điểm của mình. Cần tìm một hướng mục vụ phù hợp, để việc xưng thú cộng đoàn có thể diễn ra trong bầu khí tin tưởng và bác ái. Cuối cùng thì, thần học luân lý vẫn cần phải đào sâu hơn vào bản chất của tội, đặc biệt là tính cách xã hội của nó, vì như trên cho thấy, bản chất tàn phá của tội càng có tính xã hội chừng nào, sự dữ nó gây ra càng nguy hiểm hơn so với những hoàn cảnh phạm tội khác.
Thủ Đức, tháng 7.2001
Để hiểu hơn giáo huấn hiện tại của Hội Thánh, xin trích kèm đây đoạn văn quan trọng trong sách giáo lý của Hội Thánh Công giáo có liên quan đến việc thống hối và hòa giải. Cũng để tham khảo thêm là một lá thư mục vụ của Tổng Giám Mục Michael J. Sheehan, giáo phận Santa Fe, Hoa Kỳ. Bức thư cho thấy một cách trình bày có tính mục vụ rất sáng sủa, đơn giản cho các tín hữu về bí tích hòa giải.
Phụ lục 1
trích sách giáo
lý của hội thánh công giáo:
NHỮNG HÌNH THỨC
THỐNG HỐI
TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU.
1434. Thống
hối nội tâm của người Kitô hữu có thể được diễn tả bằng nhiều
cách. Thánh Kinh và các giáo phụ nhấn mạnh nhất ba hình thức: giữ
chay, cầu nguyện và bố thí[32].
Đây là những cách diễn tả sự hoán cải đối với bản thân, đối với
Thiên Chúa và đối với tha nhân. Bên cạnh sự hoán cải triệt để
thực hiện qua Bí tích Thánh Tẩy hoặc tử đạo, các ngài còn kể đến
những phương thế để xin Chúa tha thứ tội lỗi: cố gắng giao hòa với
anh em, nước mặt thống hối, lo lắng đến phần rỗi tha nhân[33],
khẩn cầu các thánh và thực hành bác ái “vì tình yêu che phủ muôn
vàn tội lỗi” (1 Pr 4,8).
1435. Trong
đời sống hằng ngày, việc hoán cải được thể hiện qua những hành vi
giao hòa, lo lắng cho người nghèo, thực thi cũng như bảo vệ công lý
và công bình[34],
bằng việc thú tội, sửa lỗi cho nhau, xét lại cách sống, xét mình,
linh hướng, chấp nhận đau khổ, kiên trì khi bị bách hại vì lẽ công
chính. Vác thánh giá mỗi ngày và bước theo Chúa Giêsu là con đường
thống hối chắc chắn nhất[35].
1436. Bí tích Thánh thể và Bí tích Thống hối.
Chúng ta tìm được nguồn mạch và của nuôi dưỡng cho lòng hoán cải và
thống hối hằng ngày nơi Bí tích Thánh Thể, vì đây là hy tế của Đức
Kitô, Đấng giao hòa chúng ta với Thiên Chúa. Bí tích Thánh Thể nuôi
dưỡng và tăng sức cho những người sống bằng sự sống của Đức Kitô:
Bí tích này là “phương thuốc cứu chúng ta khỏi tội lỗi hằng ngày và
gìn giữ chúng ta khỏi tội trọng”[36].
1437. Việc
đọc Thánh Kinh, đọc kinh Thần vụ và kinh Lạy Cha, mỗi hành vi phụng
tự và đạo đức chân thành đều làm sống lại trong chúng ta tinh thần
hoán cải và thống hối, đồng thời góp phần tha thứ tội lỗi cho
chúng ta.
1438. Thời
điểm và những ngày thống hối trong năm phụng vụ (Mùa Chay, mỗi thứ
sáu tưởng nhớ Chúa chịu chết), là những thời điểm đặc biệt để Hội
Thánh thực hành thống hối[37].
Đây là thời gian đặc biệt thích hợp để tĩnh tâm, cử hành phụng vụ
thống hối, để hành hương thống hối, tự nguyện hãm mình như giữ chay
và bố thí, chia sẻ huynh đệ (công tác từ thiện và truyền giáo).
1439. Đức
Giêsu đã diễn tả tiến trình hoán cải và thống hối cách tuyệt vời
qua dụ ngôn “Người cha nhân hậu” (Lc 15,11-24). Bị ảo ảnh tự do mê
hoặc, người con bỏ nhà Cha ra đi. Sau khi tiêu tán hết tài sản, nó
rơi vào tình trạng khốn quẫn. Nó hết sức nhục nhã vì phải đi chăn
heo, và tệ hơn nữa, ước muốn ăn cám heo mà không được. Nó nghĩ lại,
hối hận và quyết định thú nhận có lỗi với cha. Nó lên đường trở
về. Người cha bao dung và vui mừng đón con. Đó là những nét tiêu
biểu của tiến trình hoán cải. Áo đẹp, nhẫn và tiệc mừng là những
biểu hiệu của đời sống mới, trong sạch, xứng đáng, tràn ngập niềm
vui: đó là cuộc sống của người trở về với Thiên Chúa và Hội Thánh
là gia đình mình. Chỉ trái tim Đức Giêsu, Đấng thấu suốt tình yêu sâu
thẳm của Chúa Cha, mới mặc khải được cho chúng ta đại dương từ ái
của Thiên Chúa một cách đơn sơ và tươi đẹp đến thế.
* * *
Phụ lục 2.
Pastoral Letter on the Renewal of the Sacrament of
Reconciliation
First Sunday of Lent
March 2001
Dear Brothers and
Sisters in Christ,
At a recent
meeting of the Priests we discussed the practice of the Sacrament of
Reconciliation or Confession in the Parishes. Some Pastors reported that many
Catholics took advantage of the forgiveness and spiritual growth provided by
Confession. Other Pastors said that some Catholics apparently have the
impression that you don’t have to go to Confession any more.
After our
Priests’ meeting, it seemed important for me as the Chief Shepherd of our
beloved Archdiocese to prepare a Pastoral Letter on Reconciliation or
Confession, teaching clearly that this is the way Catholics have their sins
forgiven.
Protestant
friends sometimes say to Catholics, "Why tell your sins to a Priest when
you can go directly to God?" Our reply? "This Sacrament which no
other Church has, is one of the Catholic’s greatest blessings because it
provides us with absolution of sin." The wonderful Catholic Sacrament of
Reconciliation or Confession assures the repentant person of God’s forgiveness
by one of God’s special representatives, the Priest.
I am reminded of
the little boy who was afraid of thunder and lightning. One night as he was
sleeping a violent storm blistered the skies. He awoke terrified and ran into
his parents bedroom crying. His mother tried to calm him. "Jimmy, I told
you God loves you and is with you. Don’t ever be afraid. You are never
alone." Jimmy replied, "I know Mommy that God loves me and listens to
my prayers. But sometimes I need someone with skin!"
We all need
"someone with skin". When we have sinned we need to open our hearts
to another person - - - "someone with skin". For Catholics that
"someone with skin" is the Priest, ordained by the Church to
represent Jesus and the Church herself. "Someone with skin" from whom
we can ask God’s forgiveness and hear that it is granted.
Where in the
Bible does Jesus give Priests the power to forgive sins? In John, Chapter 20,
Verses 21-23, Jesus says to his apostles, "As the Father has sent me, so I
send you...receive the Holy Spirit. For those whose sins you forgive, they are
forgiven; for those whose sins you retain, they are retained." Jesus
clearly expected the successors of the disciples to continue his work -
- - to preach - - - to pray - - - and to forgive our sins when we are truly
sorry for them.
The New Testament
tells early Christians, "Confess your sins to one another, and pray for
one another, and this will cure you." (James 5:16). This advice is as
important today as it was then.
Catholics do not
confess their sins to a Priest instead of God. We confess to a Priest representing
God. The prayer of absolution which the Priest prays while administering the
Sacrament says, "I absolve you from your sins in the Name of the Father
and of the Son and of the Holy Spirit." It is in God’s name that
the Priest forgives, not his own.
When Catholics
receive the Sacrament of Reconciliation we have the opportunity, not only to be
forgiven, but also to receive advice from the Priest in living a better
Christian life. It is a source of conversion and spiritual growth for us.
How often should
one receive the Sacrament? The new Catechism of the Church says at least once a
year. But this is the bare minimum. We are required to receive the Sacrament
when we are aware of serious or mortal sin, before we can receive Holy
Communion. The Sacrament prepares us to receive the Lord Jesus worthily. Some
examples of mortal sin would be missing Sunday Mass through our own fault,
abortion, adultery and other sexual sins, drug and alcohol abuse, serious
stealing, or failings against charity or justice. We are required to confess
all serious sins that we are aware of because by their nature they separate us
from God. We must be honest with God or our sins are not forgiven. How tragic
it would be to fail to seek the forgiveness of Confession and die in serious
sin!
My heart goes out
to those who are unable to receive the Sacraments because they are in a
marriage not recognized by the Church. Those in this situation are urged to
speak with their Pastor or Deacon about the possibility of validating their
marriage through our Marriage Tribunal. Our Tribunal returns hundreds of
couples to the sacramental life of the Church each year.
Many priests hear
confessions, not only on Saturday afternoons, but also at communal penance
services during Lent and Advent when several Priests assist the Pastor since
many people come for the Sacrament. A communal celebration of the Sacrament
provides a rich opportunity to experience the social nature of sin and
forgiveness.
Several years ago
there was some experimentation with general absolution, where absolution was
given to people without first personally confessing their sins to a Priest. No
doubt this was done in good faith, however the Church has made it clear that
this is only to be done in emergency circumstances such as war or natural
catastrophes.
Some Catholics
say they don’t go to confession because they have no serious sins to confess.
But the Sacrament is for venial or lesser sins as well and we are all guilty of
those. Confession is a way to be humble before God and to conquer our pride.
Some of you may
have had a bad experience going to confession and don’t want to go anymore. Don’t
let that hold you back! Our Priests have grown in pastoral sensitivity and
kindness and want to help you be reconciled with the Lord. The Priests know
that they too are sinners.
Many people
weighed down with the guilt of past sin, find great relief in telling the
Priest about these failings in Confession. It is psychologically healthy to do
so. They know that the Priest may never tell anyone what they said in
Confession. The confidentiality of the Sacrament is so important that the
Priest could never reveal someone’s sins even to save his own life.
The Church
insists that people must have a choice in going to Confession, either
anonymously behind the screen or face to face with the Priest. These options
must be available in all Churches.
It is clear that
being a faithful Catholic includes receiving the Sacrament of Reconciliation.
Some of you may not have gone for five, ten, or more years. Let this Lent be a
time to return to the Sacrament! If you are uncertain about how to go to
Confession, just ask the priest to help you. You will come out of the
Reconciliation room with a lightness and tranquility you can’t imagine. Yes,
all of us can tell God we are sorry in our heart. But only the Catholic who has
the good sense to confess regularly has the light hearted joy of hearing
"someone with skin" say those comforting words, "Your sins are
forgiven, go in peace!"
Sincerely yours
in the Risen Lord,
Most Rev. Michael
J. Sheehan
Archbishop of
Santa Fe
A- Các văn kiện thuộc Huấn
Quyền của Hội Thánh.
1. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, 21-11-1964.
2. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Gaudium et Spes, 07-12-1965.
3. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, 11-10-1992.
4. Gioan Phaolô II, Apostolic Letter Novo Millennio Ineunte, 06.01.2001.
B- Các Sách Tham Khảo chính.
1. Cooke, Bernard, Sacraments and Sacramentality, Twenty Third Publication, Connecticut, 1995. Một tác phẩm súc tích và rõ ràng, trình bày về bí tích theo một cách nhìn hiện đại. Tác giả khởi đi từ kinh nghiệm con người để nói về bí tích bằng những thực tại cụ thể và giàu hình ảnh như tình bạn, kinh nghiệm sống...
2.
Duffy, Stephen J., The Dynamics of Grace, Perspectives
in Theological Anthropology, The Liturgical Press, Collegeville, Minnesota,
1993. Một tổng luận hệ thống về tác động của ân sủng trong đời
sống con người. Trình bày cái nhìn của các thời đại về ân sủng qua
các gương mặt lớn của mỗi thời đại.
3. Hellwig, Monika, Sign of Reconciliation and Conversion, The Liturgical Press, Collegeville, Minnesota, 1991. Ngắn gọn và rõ ràng, tác phẩm trình bày thần học về bí tích hòa giải, nhấn mạnh yếu tố hòa giải với Thiên Chúa, với cộng đoàn và chính mình, dưới ánh sáng của các khoa học xã hội hiện đại.
4. Haring, Bernard, The Sacrament of Reconciliation, Saint Paul Publications, Middlegreen, 1980. Một tác phẩm nhỏ nhưng rất cảm động. Tác giả trình bày bí tích hòa giải dưới dạng những bài suy niệm ngắn, nhưng nói lên tính cách cầu nguyện của nghi thức mới, và lồng vào đó những suy tư về ơn hòa giải toàn vẹn của Thiên Chúa nơi hối nhân.
5. Haring, Bernard, Free and Faithful in Christ, Vol. I, Saint Paul Publication, Australia, 1979. Một bộ chuyên khảo rất phong phú về luân lý Kitô giáo. Đặc biệt được tham khảo trong bài này là phần nói về tội. tác giả cho thấy một cái nhìn toàn diện và quân bình khi phân tích mầu nhiệm này.
6. Moser, Antonio và Leers, Bernardino, Moral Theology, Dead Ends and Alternatives, Orbis Books, Maryknoll, NY, 1990. Thần học luân lý theo chiều hướng thần học giải phóng. Tác giả đề cập những khó khăn trong đời sống luân lý giáo dân, những lúng túng của thần học luân lý truyền thống và đề nghị một cách nhìn mới. Cách trình bày mang tình hiện sinh, nhấn mạnh khía cạnh giải phóng của Thiên Chúa trong đời sống con người.
7. Monden, Louis, Sin, Liberty and Law, Sheed and Ward, NY, 1965.
8. Minh, Trần văn Hiến, Bí Tích Học, Ra Khơi, Sàigòn, 1959. Sách nặng quan điểm hộ giáo, nhưng có thể tham khảo để hiểu lịch sử của bí tích này được trình bày khá chi tiết.
9. Harrington, Daniel, Why do we suffer?, Sheed & Ward, Franklin, Winconsin, 2000. Một khảo cứu thần học thánh kinh về vấn đề đau khổ của con người.
10. Mahoney, John, The Making of Moral Theology, Clarendon Press, Oxford University Press Inc., NY 1989. Một loạt vấn đề gai góc trong thần học luân lý như chủ quan tính, quyền bính trong Giáo Hội, chọn lựa nền tảng... được tác giả trình bày dưới một cái nhìn hệ thống rất sắc sảo. Đặc biệt là hai chương bàn về ảnh hưởng của thông điệp Humane Vitae và phác họa một nền thần học tương lai rất đáng chú ý.
11. Curran, Charles E., The Catholic Moral Tradition Today, A Synthesis, Georgetown University Press, Washington, 1999. Một tổng hợp giống như tác phẩm của Mahoney.
12. McCormick, Patrick, Sin as Addiction, Paulist Press, NY, 1989. Một khảo cứu công phu về những mẫu thức trong thần học luân lý về vấn đề tội. Tác giả cho thấy những hạn chế của quan điểm cũ trong truyền thống, và đề nghị một cách nhìn mới phù hợp hơn với hoàn cảnh hiện tại của con người trong xã hội hôm nay.
13. Schillebeeckx, Edward, Christ, the Sacrament of the Encounter with God, NY, Sheed & Ward, 1963.
14. George J. Dyer, ed., An American Catholic Catechism, NY, Seabury, 1975.
15. Schoonenberg, Piet, Man and Sin, Notre Dame, Ind.: University of Notre Dame Press, 1965.
C- Vài tài liệu
tham khảo từ kho Internet.
16. Mahoney,
John, The Center of Moral Theology. http://www.jmahoney.com/moral.html
17. Kerfoot,
Glenn, Sacramentality and Human
Friendship. http://gabrielmedia.org/research/kerfoot/thesis.html
[1] Trần văn Hiến Minh, Bí tích học, Sài gòn: Ra Khơi, 1959, tr. 50-60.
[2] Sách GLCG, 1997, tr. 667.
[3] Mahoney, John, The Center of Moral Theology. http://www.jmahoney.com/moral.html.
[4] Cũng như trong tiếng Việt thường chỉ dùng một từ “tội”.
[5] Hellwig, Monika, Sign of Reconciliation and Conversion, 1991, tr.103.
[6] Phan Tấn Thành, Bí tích Hòa Giải, VN, 1989, tr. 1-2.
[7] Người viết đã hỏi một vài linh mục ở những xứ đạo không toàn tòng, và thấy rằng năm nào trong dịp mùa Chay và mùa Vọng đều có những người xưng tội sau khi đã bỏ vài chục năm. Số người này dù ít ỏi nhưng cũng là một hiện tượng xảy ra, đặc biệt trong người trẻ và những người gặp rắc rối về hôn nhân. Sau khi gặp một khủng hoảng hoặc bị vạ hôn nhân, họ bỏ xưng tội luôn, và trong tình trạng bị vạ, không cảm thấy buộc phải quay lại.
[8] Hellwig, Monika, Sign of Reconciliation and Conversion, 1991, tr.7.
[9] Người viết chưa tìm hiểu ở bình diện rộng, nhưng trong số những cặp vợ chồng trẻ được hỏi, có hơn một nửa vẫn thỉnh thoảng dùng những phương pháp bị Giáo Hội coi là bất hợp pháp, và họ tỏ ra nghi ngờ về tính đúng đắn của phán quyết của Giáo Hội về vấn đề này. Đặc biệt có một trường hợp một gia đình đông con. Hai vợ chồng vẫn trong độ tuổi sinh hoạt vợ chồng mạnh mẽ và không thể kiềm chế được, nhưng lại không dám ngừa thai vì bị cha xứ cấm. Cuối cùng, họ vẫn phải dùng đến phương pháp bị cấm, nhưng lại không dám xưng tội vì sợ cha xứ ra vạ. Họ sống trong đau khổ, chịu đựng như thế từ khi sinh đứa con cuối cùng, tức là khoảng hơn mười năm nay. Con rể của họ cũng ở trong hoàn cảnh tương tự. (Thông tin thu thập tháng 8 - 2000).
[10] Một đôi thanh niên nam nữ do quan hệ trước hôn nhân, đã có thai. Nhưng để tránh những bản án khắc nghiệt và công khai của cha xứ, đã quyết định phá thai (Tháng 5 - 2001). Một hiện tượng khác cũng hay gặp là người ta quyết định sống tự do theo lương tâm mà không đếm xỉa gì đến lời khuyên của Hội Thánh. Họ cho những lời khuyên ấy là vô căn cứ. (Thông tin thu thập được từ một số cặp vợ chồng trẻ Công giáo tại Tp. HCM, từ đầu năm 2000 đến tháng 6 - 2001).
[11] Duffy, S.J., The Dynamics of Grace, 1993, tr. 11-12; x. Brown. R., Theology in a New Key, Philadelphia, Wesminster, 1978.
[12] Không ít linh mục còn giữ thái độ nghiêm khắc quá mức với người đi xưng tội khi nghe tội của họ, và nặng lời về những điều họ xưng thú mà không lý gì đến hoàn cảnh khó khăn của họ. Người viết có hỏi nhiều thanh niên và thấy họ thường tránh né những vị này khi xưng tội, hoặc giấu không xưng thú điều mình (nghĩ là) phạm tội, vì không tin tưởng các vị sẽ giúp gì được cho mình nếu kể ra.
[13]Shopp, John B. et al., The HarperCollins Encyclopedia of Catholicism, HarperCollins Publishers Inc, 1995. Osborne, Kenan, mục Reconciliation.
[14] Bernard Cooke, Sacraments and Sacramentality, The Twenty-Third Publication, 1989, tr.7 tt.
[15] Ibid., tr. 9.
[16] Thánh Âu-tinh, Confessions, Hackett Publishing Company, Inc., 1993, 1.1.
[17] Johnson, Elisabeth, Consider Jesus. NY: Crossroad, 1990, tr. 22-24.
[18] Để xem lại lịch sử của bí tích này, có thể xem Trần văn Hiến Minh, Bí tích học, Sài gòn: Ra Khơi, 1959, phần Bí tích giải tội. Là một sách viết trước công đồng Vatican II, sách mang nặng quan điểm hộ giáo, nhưng cũng cho một cái nhìn khá chi tiết về thần học bí tích hòa giải trước đó.
[19] Trần văn Hiến Minh, ibid., tr. 407-408.
[20] Hellwig, Monika, sđd, tr. 92.
[21] Poschman, Bernhard, Penance and the Anointing of the Sick NY: Herder, 1964, phần III và IV; x. tr.48-102.
[22] Xem trang 5.
[23] Haering, Bernard, Free and Faithful in Christ, vol. I, tr. 392-395.
[24] Haring, Bermard, Free and Faithful in Christ, vol 1, 396-398.
[25] Rondet, Henry, The Theology of Sin, tr.83.
[26] ST 1a2ae, q.71, art.6.
[27] McCormick, R., tr.56-64.
[28] Ibid, tr 65-66.
[29] Cooke, Bernard, Sacraments and Sacramentality.,1994, chương II: To Experience is to Live Humanly; x. Hellwig, Monika, Sign of Reconciliation and Conversion, 1991, chương VI: the Efficacy of Sacrament, tr.107.
[30] Menninger, Whatever Became Sin?,; Peck, Scott, People of the Lie, 1983.
[31] Thomas De Quincey, Ib Supplementary Papers.
[32] X. Tb 12,8; Mt 6,1-18
[33] x. Gc 5,20.
[34] X. Am 5,24; Is 1,17.
[35] X. Lc 9,23.
[36] X. CĐ Trentô: DS 1638.
[37] X SC 109-110; CIC khoản 1249-1253; CCEO, khoản 880-883.